Friday, March 25, 2016

Các Phương Pháp Chữa Trị Và Phòng Tránh Đau Lưng

4. Chữa Trị 

Thay đổi các hoạt động thường ngày cho nhẹ nhàng hơn. Có thể chườm túi lạnh, túi nóng, hoặc dùng acetaminophen (Tylenol), aspirin, hay một loại thuốc chống viêm nào đó để giảm đau và giảm viêm.

Việc nằm nghỉ trên giường thực ra lại khiến việc hồi phục đau lưng chậm hơn và tệ hơn. Trong đa số trường hợp, bệnh nhân có thể bắt đầu lại các hoạt động bình thường hay các chương trình vật lý trị liệu trong vòng 24 đến 72 tiếng đồng hồ sau khi được điều trị.

Việc tăng cường sức khỏe cho cả vùng bụng lẫn vùng cơ lưng là cần thiết để giữ cột sống thăng bằng. Bạn cũng có thể giảm thiểu các chấn thương cột sống trong tương lai bằng những bài luyện tập cơ bắp nhẹ nhàng, nhất là tập thể thao đúng cách, và luôn giữ đúng tư thế khi bạn đứng hay ngồi.

Tiêm thuốc kích thích (steroid) hoặc thuốc gây tê trực tiếp vào lưng có thể giúp giảm đau tức thời. Nếu bạn bị thoát vị đĩa đệm hoặc dây thần kinh bị lệch ra khỏi tủy sống, thì phẫu thuật sẽ có thể cần thiết. 

Đối với những bệnh nhân bị đau lưng kinh niên và dây thần kinh đã bị tổn thương, thì một số phương pháp chữa trị dây thần kinh mới phát triển gần đây có thể sẽ hữu ích, ví dụ như việc hủy tần số vô tuyến (radiofrequency ablation) hoặc phẫu thuật để cắt bỏ dây thần kinh (rhizotomy). Hủy tần số vô tuyến là một quá trình chuyển tải kích thích xung điện đến những dây thần kinh cụ thể và khiến chúng bớt nhạy cảm với nỗi đau, hoặc là chuyển tải xung điện vừa đủ để hủy hoại dây thần kinh tạo ra cảm giác đau đớn. Phương pháp này chỉ hữu hiệu khi đau lưng gây ra bởi ma sát trên bề mặt của hai khớp xương cột sống, nhưng không có tác dụng trong việc chữa trị thoát vị đĩa đệm.

Một số bác sỹ khác ủng hộ việc sử dụng một dụng cụ kích thích điện thần kinh xuyên thấu (transcutaneous electrical nerve stimulator – TENS), mặc dù việc dùng TENS cũng chưa được kết luận là có hiệu quả cho việc chữa trị đau lưng hay không. Điện cực khi được áp vào cơ thể sẽ dẫn chuyền một dòng điện nhẹ giúp giảm đau. TENS không gây đau đớn. Tuy nhiên việc dùng TENS để chữa trị đau lưng dưới lại không hiệu quả và không được hội Hàn Lâm Thần Kinh Học của Mỹ (American Academy of Neurology – AAN) khuyến cáo.

Các chuyên viên nắn khớp xương (chiropractors) cũng rất hữu hiệu trong việc chữa trị chứng đau lưng, nhất là chứng đau lưng dưới cấp tính, nhưng lại không hiệu quả lắm với chứng đau lưng mãn tính.

Châm cứu cũng là một cách hữu hiệu khác. Nó có thể được áp dụng một mình hoặc chung với các phương pháp trị liệu khác. Viện Sức Khỏe Quốc Gia của Mỹ (National Institutes of Health – NIH) đã tuyên bố châm cứu là một phương pháp chữa trị hợp lý cho những bệnh nhân đau lưng dưới.  

Nếu bạn đau lưng do bị căng thẳng tâm lý, bạn nên đến gặp một chuyên viên trị liệu tâm lý để chữa trị. Quá trình điều trị sẽ bao gồm việc giảm căng thẳng, giúp thích ứng môi trường tốt hơn, và các kỹ năng giúp bạn tự thư giãn, để giúp bạn giảm đau lưng, và thậm chí, giảm cả trầm cảm.

Nếu bạn đau lưng do căng cơ, phản hồi sinh học (biofeedback) sẽ là một phương pháp chữa trị đau lưng hiệu quả, giúp bạn giảm đau, giảm thuốc, và tăng cường chất lượng cuộc sống. Phương pháp này sẽ tập cho cơ bạn thích ứng với mọi căng thẳng tốt hơn.

Alexander Technique, Pilates, và Feldendkrais Method là những bài tập đặc biệt giúp cơ thể bạn điều phối hài hòa hơn và nhờ thế, sẽ bớt bị đau và thư giãn hơn. Một số động tác yoga cũng có khả năng giảm đau, tăng sự linh hoạt, khỏe khoắn, và thăng bằng của cơ thể. Ngoài ra yoga cũng có thể giúp bạn giảm căng thẳng và thoải mái về tâm lý hơn.

Các phương pháp trị liệu liên quan đến nước như bơi lội và các bài tập thể dục cũng có thể tăng độ linh hoạt và giảm đau cho những ai bị đau lưng kinh niên vì nước là môi trường hoàn hảo và an toàn cho những bài tập của người bị đau lưng, nhất là các trường hợp bị thoát vị đĩa đệm.

Đối với những ai bị đau lưng kinh niên thì phẫu thuật là phương pháp cuối cùng, chỉ nên áp dụng khi các biện pháp chữa trị khác không hiệu quả và các lợi ích cũng như tác hại của việc phẫu thuật đã được bàn bạc kỹ lưỡng.

5. Phòng Tránh  

Giữ một cuộc sống lành mạnh là cách tốt nhất để tránh đau lưng. Tránh làm việc/nâng vác nặng quá sức. Tập thể dục thường xuyên để giữ cơ bụng và cơ lưng cứng chắc.

Hút thuốc lá khiến cho cột sống mau lão hóa, do đó, nên tuyệt đối tránh hút thuốc hoặc ở gần những người hút thuốc.  

Tập đứng, ngồi, nằm, di chuyển đúng tư thế sẽ giúp giảm thiểu đau lưng. Trước hết, đứng dựa thẳng gót chân vào tường. Bắp chân, mông, vai, và lưng đều phải chạm tường hết. Bạn sẽ có thể luồn vừa đủ độ dày một bàn tay phía sau lưng bạn. Sau đó, bước tới và đứng thẳng. Nếu như tư thế đứng của bạn có thay đổi so với lúc đứng dựa sát tường, thì bạn cần phải chỉnh sửa ngay.

Nếu công việc của bạn phải đứng cả ngày, bạn nên đi dép không có đế cao gót và có vòm hỗ trợ tốt. Đồng thời bạn nên kiếm một cái hộp hoặc một cái đế cao khoảng 15cm để thỉnh thoảng nghỉ một chân lên đó.


Tư thế ngồi còn quan trọng hơn nữa. Một cái ghế tốt sẽ giúp hông bạn ngồi thoải mái và không chạm và phần sau của đầu gối. Chân bạn phải được đặt bằng phẳng trên sàn nhà. Cánh tay trước cần được đặt trên bàn làm việc với khuỷu tay được đặt ở một góc phù hợp, thoải mái.


Và sau cùng, hãy hỏi bác sỹ, huấn luyện viên thể dục, hay huấn luyên viên yoga, hoặc thầy dạy tai-chi của bạn về những bài tập giúp lưng vững và khỏe hơn, để giúp giảm thiểu nguy cơ đau lưng, giúp lưng khỏe mạnh, linh hoạt, và luôn ở trạng thái cân bằng. 

Nguyên Nhân Và Dấu Hiệu Của Đau Lưng

Ai trong chúng ta cũng đã có ít nhất một lần bị đau lưng. Đau lưng quả thực là một triệu chứng phổ biến nhất ở người lớn, và có khả năng dẫn đến mất việc làm khá cao, chưa kể đến việc mất thời gian và tiền bạc cho việc chữa trị chứng bệnh này. Chứng đau lưng bao gồm đau cơ, đau gân/dây chằng, thoát vị đĩa đệm, gẫy xương, và một số vấn đề khác. Thông thường, nguyên nhân dẫn đến đau lưng thường đã bị tích tụ qua một thời gian dài.

1. Nguyên Nhân

Nguyên nhân chính dẫn đến đau lưng chủ yếu là do những thói quen xấu của chính chúng ta, lặp đi lặp lại qua thời gian, dẫn đến đau lưng. Những thói quen xấu này bao gồm:

- Ngồi không đúng tư thế

- Hoạt động quá mức khi làm việc hoặc khi vui chơi

- Ngồi không đúng cách khi ở bàn làm việc hoặc ở sau tay lái

- Đẩy, kéo, nâng vác vật nặng không đúng cách

Cũng có khi đau lưng xảy ra không vì lý do cụ thể nào cả, và được gọi là chứng đau lưng không cụ thể.

Cũng có khi đau lưng xảy ra là do cơ bị căng thẳng (chứng căng cơ kinh niên), hoặc do căng thẳng đầu óc, và thiếu ngủ.

Việc mang thai cũng thường dẫn đến đau lưng do sự thay đổi về hóc-môn cũng như thay đổi về trọng lượng của cơ thể, hay do việc gây tê cột sống.

Chấn thương do hoạt động thể thao, tai nạn, hay té ngã đều có thể dẫn đến đau lưng từ nhẹ đến nặng, và có thể làm tổn thương nghiêm trọng xương cột sống cũng như tủy sống.

2. Một Số Dấu Hiệu

- Khi bạn bị tê, bị ngứa râm ran như kiến bò, hoặc bị yếu tay chân, thì đó chính là dấu hiệu tủy sống của bạn đã bị tổn thương.

- Khi chứng đau lưng kéo dài xuống tận phía sau chân thì có nghĩa là bạn đang bị đau thần kinh tọa (sciatica). 

- Nếu khi nào bạn ho hoặc cúi người ở ngang hông và cơn đau tăng lên gấp bội, thì đây là dấu hiệu bạn bị thoát vị đĩa đệm. 

- Khi cơn đau đi kèm với cơn sốt, tiểu rát, hoặc nước tiểu bị nặng mùi hôi, thì có nghĩa là có thể bạn đã bị nhiễm trùng.


3. Chẩn Đoán

Trước khi điều trị đau lưng cho bạn, bác sỹ sẽ kiểm tra khả năng di chuyển của bạn và tìm ra chỗ nào khiến bạn khó chịu khi di chuyển. Đồng thời kiểm tra mẫu máu và nước tiểu của bạn để xác định nguyên nhân gây đau lưng.

Bên cạnh đó, bạn cũng sẽ được chụp X-quang để kiểm tra xem xương có bị gãy hay hỏng chỗ nào không. Để kiểm tra vùng cơ có bị làm sao hay không thì chụp cộng hưởng từ (MRI) hay chụp vi tính cắt lớp (CT scan) có thể sẽ cần thiết. Để kiểm tra xem dây thần kinh có bị tổn thương hay không, điện cơ đồ (electromyogram-EMG) sẽ hiệu quả hơn. 

Friday, March 18, 2016

Cuộc Cách Mạng Thứ 4: Stent Tự Tiêu Biến

Theo thống kê mới nhất của WHO, Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới, năm 2014, ở Việt Nam cứ 100,000 người thì có khoảng 45 người chết vì bệnh liên quan đến động mạch tim (coronary heart disease). Và việc đặt stent là một trong những phương pháp được xem là hiệu quả nhất để chống lại chứng tắc nghẽn động mạch tim này.

Ngày 15/3/2016 vừa qua, một hội đồng độc lập gồm các chuyên gia của Cơ Quan Quản Lý Thuốc và Thức Ăn (FDA) của Mỹ đã bỏ 9 phiếu thuận, 0 phiếu chống, và 1 phiếu trắng cho việc đồng ý rằng Absorb, một loại stent tự tiêu biến của công ty Abbott, có lợi nhiều hơn có hại trong việc chữa trị chứng tắc nghẽn động mạch tim.

Điều này rất quan trọng vì nó sẽ mở đường cho Absorb tấn công thị trường Mỹ, hy vọng là cuối năm nay, và sẽ trở thành tiêu chuẩn mới trong việc đặt stent trên toàn cầu. Absorb đến nay đã được bán ở trên 100 nước, với gần 125,000 bệnh nhân đã sử dụng nó ngoài nước Mỹ

1. Stent để làm gì?

Tim cũng như các cơ quan khác của cơ thể đều cần máu và oxy như xe máy cần xăng và dầu để hoạt động được. Động mạch vành là đường ống dẫn máu và khí oxy đến để nuôi cơ tim. Ở một số cá thể, do gen di truyền, hoặc do lối sống ăn nhiều mỡ/ít vận động/ hút thuốc lá và uống rượu bia nhiều, sẽ khiến cho thành động mạch vành tạo mảng bám. Mảng bám đó càng dầy thì đường dẫn khí oxy và máu đến tim sẽ càng hẹp. Do đó, dẫn đến việc đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, hoặc chết do tim không được nuôi dưỡng đủ máu và oxy kịp thời.

Nhờ vào y học hiện đại, người ta đã sáng chế ra stent để đặt vào trong động mạch bị mảng bám đó, giúp đẩy mảng bám ra hai bên, tạo ra lối đi rộng hơn cho máu và oxy lưu thông đến tim tức thời hơn.

2. Thế hệ stent thứ 4

Thế hệ stent đầu tiên (Balloon - PTCA) được sáng chế năm 1977. Người ta đưa một quả bóng vào động mạch vành bị mảng bám làm hẹp. Sau đó thổi phồng quả bóng đó lên, ép mảng bám ra hai bên thành động mạch vành. Sau đó, họ làm quả bóng xẹp lại và rút nó ra.


 Thế hệ stent thứ 2 (Bare Metal Stent – BMS) được sáng chế năm 1988. Người ta thêm một lớp kim loại bọc quanh quả bóng. Khi quả bóng được rút ra, thì lớp ống kim loại đó vẫn ở lại, giữ cho mảng bám không làm hẹp động mạch được nữa. Như thế, hiệu quả sẽ dài lâu hơn rất nhiều so với thế hệ đầu tiên.



Thế hệ stent thứ 3 (Drug-Eluting Stent – DES) được đưa vào Mỹ và Châu Âu năm 2002-2003. Người ta cho thêm thuốc chống tạo mảng bám (everolimus) vào lớp ống kim loại đó. Và khi ống kim loại từ từ nhả thuốc ở bên trong thành động mạch vành, mảng bám sẽ rất khó để tạo ra lần nữa.


Thế hệ stent thứ 4 (Bioresorbable Vascular Scaffold – BVS) được công ty đứng đầu thế giới về sản xuất stent, Abbott, giới thiệu năm 2011, lấy tên là Absorb. Absorb được làm bằng polylactic acid thay vì kim loại, và cũng có khả năng tự nhả thuốc chống tạo mảng bám như thế hệ stent thứ 3. Điều khác biệt lớn nhất đó là sau 2-3 năm được đặt vào trong động mạch vành thì Absorb sẽ tự tiêu biến bằng cách tự phân hủy thành lactic acid, và được cơ thể hấp thu dưới dạng nước và CO2.


(Nguồn hình: http://www.fda.gov.tw/upload/189/Content/2013011111410124301.pdf)

3. Lợi ích của Absorb

Chuyện stent tự tiêu biến nghe tưởng như khoa học viễn tưởng, nhưng điều đó giờ đây đã thành hiện thực sau bao năm nghiên cứu. Lợi ích lớn nhất mà các nhà sáng chế muốn đạt được từ việc tạo ra Absorb đó là cho cơ thể một sự trợ giúp tạm thời, và nhờ có sự trợ giúp tạm thời đó, cơ thể sẽ có khả năng tự tái tạo lại động mạch dần dần cùng lúc với sự biến mất dần dần của stent.

Ngoài ra, với sự tiêu biến của Absorb, động mạch vành sẽ trở về trạng thái tự nhiên của nó, không bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của một thanh kim loại cứng làm cản trở các hoạt động cần sự uyển chuyển mềm mại vốn có của mạch máu. Nhờ đó, người bệnh có thể sẽ ít bị di chứng và thấy tự nhiên hơn.

Gía thành hiện tại của Absorb có thể sẽ lên đến mức gấp đôi giá thành của các loại stent hiện tại trên thị trường.