Wednesday, June 10, 2015

Cha Mẹ Có Trước Hay Con Cái Có Trước? - Kỳ 1 - Khi Tuổi Thơ Bắt Đầu


Mình có đứa cháu năm nay được 3 tuổi. Thằng bé từ khi bắt đầu bập bẹ hiểu ngôn ngữ thì đã thể hiện một tính cách khá đặc biệt khiến mình chú ý: đó là khi nó đòi làm gì mà mình không cho thì nó sẽ khóc. Nếu la mắng hay đánh nó thì nó sẽ khóc to hơn. Nhưng thay vì như thế, nếu chỉ cần giải thích tại sao mình không cho nó làm thế thì nó thậm chí không những không khóc mà còn tự nguyện răm rắp làm theo. Điều này khiến mình nhận ra: 1. à, trẻ con có khả năng nhận thức sớm hơn mình tưởng, với điều kiện những bậc làm cha mẹ phải biết kiên nhẫn với con mình và 2. rằng "thương cho roi cho vọt" là một cách giáo dục mình không hề muốn theo đuổi...

Mặc dù mình tự biết mình đã có một tuổi thơ hạnh phúc và đầy đủ tình yêu hơn nhiều trẻ em khác, nhưng điều đó cũng không khiến mình quên được những trận đòn roi kinh hãi của ba mẹ, những khuôn mặt giận dữ của họ khi mất khả năng kiểm soát, và những ngôn từ khiếm nhã tuôn ra từ miệng họ trong cơn nóng máu. Những cái đau của roi vọt mình không còn nhớ. Nhưng những tổn thương từ ngôn ngữ và cách họ biểu hiện cảm xúc khi giận dữ thì khó để quên hơn. Mình đã phải "tự chữa" tâm lý bằng cách lặp đi lặp lại trong đầu rằng ba mẹ đã làm như thế vì yêu mình, và sự thực mình tin là như thế! Cũng nhờ vậy mà mình dần nhận ra tình yêu quan trọng đến thế nào và nó có sức mạnh lớn đến thế nào trong việc chữa lành những vết thương tâm hồn mà khó có liều thuốc nào khác có thể xoa dịu được. 

Nhưng trong quá trình tìm ra chân lý đó, không phải rằng mình không có lúc lạc lối. Mình còn nhớ khi bé mình đã có lúc dồn những bực dọc trong người đó lên đầu một đứa bé khác cùng lớp. Khi đó mình đang học mẫu giáo. Và đỉnh điểm là mình có một lần đã dụ nó ra một chỗ vắng và nhéo một cái rõ đau vào cánh tay nó. Cô bé đã không khóc. Nhưng ngay sau đó là cảm giác sợ hãi và hối hận xâm chiếm mình. Mình lờ mờ nhận ra đây không phải là giải pháp cho những tâm lý bị ức chế từ những cơn giận dữ đôi khi mình cho là oan ức từ ba mẹ, nhất là khi bất kể điều gì mình nói lại đều bị cho là "cãi," là "hỗn." Và đó là lần đầu tiên cũng như lần cuối cùng mình chạm vào cô bé đó.  

Mình cảm thấy mình là một trường hợp cực kỳ may mắn khi có thể nhận ra tình yêu mới là câu trả lời cho mọi vấn đề. Vậy còn những bé khác như mình không có may mắn đó thì sao? 

Khi đi học, mình vẫn nhớ có những khi quyển vở của thằng bạn dính máu vì bị ba mẹ đánh do điểm thấp và nỗi sợ hãi run người của nó mỗi khi cô giáo đòi chữ ký của ba mẹ bên cạnh điểm 4, điểm 5 của nó. Có đứa bạn khác của mình đã cố gắng tự tử lúc 5 tuổi cũng vì những trận đòn roi quát mắng và nghĩ mình không được yêu thương. Một trường hợp khác khi đứa bạn mình luôn phải cố gắng chạy theo những điều ba mẹ mong muốn để làm họ vui nhưng nhận lại chưa bao giờ là những lời khen hay những điều thể hiện sự công nhận trong yêu thương. Hay khổ nhất là những đứa bạn có ba mẹ thường xuyên cãi nhau, đánh nhau, hay thậm chí ly dị nhau.. Những đứa bé ấy vẫn lớn lên nhưng mình biết họ vẫn sẽ khó lòng hàn gắn những vết thương tuổi thơ đó. Và nếu như họ không thể "làm hoà" với quá khứ đó, những ức chế tâm lý ấy sẽ lại do những đứa con của họ sau này chịu đựng, như một vòng lẩn quẩn khó chấm dứt. 

Nhưng tóm lại thì những điều kể trên cũng chỉ vẫn là những trải nghiệm của riêng bản thân mình và hoàn toàn là một góc nhìn thiên vị. Và vì thế, mình tìm đến khoa học với hy vọng để có được câu trả lời tổng quát hơn, cụ thể hơn, và công bằng hơn cho tất cả. 

Cám ơn các bạn đã chịu khó đọc đến đây! Mình sẽ lần lượt trình bày những nghiên cứu khoa học mình tìm được để trả lời cho những câu hỏi sau với hy vọng đưa ra một giải pháp khả thi để chấm dứt vòng lẩn quẩn kể trên: 

1. Những tổn thương tâm lý tuổi thơ dẫn đến điều gì?

2. Làm sao để con bạn lớn lên thành người hạnh phúc?

3. Làm thế nào để hạnh phúc?

Mình cũng xin báo trước là giải pháp sẽ rất khả thi nhưng sẽ đòi hỏi sự kiên nhẫn và cố gắng không ngừng nghỉ của bạn đó! ;)

Wednesday, June 3, 2015

Dị Ứng và Sốc Phản Vệ

1. Phản vệ là gì?

Phản vệ là sự dị ứng quá mức của cơ thể với một thứ gì đó, dẫn đến nguy hiểm tính mạng, với những triệu chứng như sưng tấy, nổi mẩn, tụt huyết áp, và mạch máu bị trương phồng lên. Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân có thể còn bị sốc nữa, và có thể dẫn đến tử vong nếu không được chữa trị kịp thời.

Phản vệ xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo ra kháng thể globulin miễn dịch E để chống lại một chất gây dị ứng nào đó một cách thái quá, ngay cả khi chất đó là vô hại, ví dụ như thức ăn hằng ngày. Cơ thể của bạn có thể sẽ không có phản ứng gì với lần đầu tiên tiếp xúc chất gây dị ứng đó. Nhưng sẽ có thể tạo ra kháng thể để chống lại chất đó ở những lần tiếp xúc thứ 2, thứ 3… Và một khi cơ thể bạn đã tạo ra kháng thể chống lại chất dị ứng đó, thì khi bạn tiếp xúc với chất gây dị ứng đó lần nữa, cơ thể bạn sẽ tạo ra một lượng protein histamine cực lớn, dẫn đến những triệu chứng phản vệ kể trên.

Đây là hình ảnh của một em bé bị sốc phản vệ (nguồn: http://news.bbcimg.co.uk/media/images/72609000/jpg/_72609221_facialswelling2.jpg).



2. Dấu hiệu nào để nhận biết phản vệ?

Phản vệ thường bắt đầu với việc ngứa mắt và ngứa mặt kinh khủng, và sau chỉ vài phút, sẽ dẫn đến những triệu chứng nặng hơn, ví như: khó nuốt, khó thở, đau bụng, chuột rút, ói mửa, tiêu chảy, nổi mẩn, và sưng mạch máu dưới da.  

Nếu bạn có những triệu chứng phản vệ kể trên, bạn cần đi bác sỹ ngay lập tức. Sau đó phản vệ có thể tiếp tục tiến triển nặng hơn với việc tăng nhịp tim, cơ thể yếu đột xuất, huyết áp máu xuống nhanh, sốc, cuối cùng là bất tỉnh và có thể là tử vong.

3. Điều gì gây nên phản vệ?

Thức ăn thường là nguyên nhân chính dẫn đến phản vệ. Các loại thức ăn thường gây ra phản vệ đó là các loại hạt, các loại hải sản có vỏ cứng như tôm, cua, các sản phẩm từ sữa, lòng trắng trứng, và hạt vừng. Bị ong đốt cũng có thể dẫn đến phản vệ.

Ngoài ra, việc tập thể thao ngay sau khi ăn uống một loại thức ăn dễ gây dị ứng nào đó cũng có khả năng gây ra phản vệ.

Một số loại thuốc cũng có thể dẫn đến phản vệ.

Phấn hoa và các thể loại chất gây dị ứng khác qua đường hô hấp thường hiếm khi gây ra phản vệ.

Một số chất có thể gây ra phản ứng phản vệ. Phản ứng phản vệ cũng giống và nguy hiểm như phản vệ, nhưng lại không dính dáng đến globulin miễn dịch E. Lý do thường dẫn đến phản ứng phản vệ là cá và một số thuốc men (ví dụ như thuốc nhuôm màu phóng xạ tiêm trong tĩnh mạch)

4. Làm sao để chẩn đoán phản vệ?

Phản vệ được chẩn đoán dựa trên những triệu chứng đã kể trên. Những ai có lịch sử bệnh án với nhiều ca dị ứng thường có nguy cơ bị phản vệ nặng hơn.

Việc kiểm tra mẫu da có thể giúp nhận dạng nguyên tố nào đã dẫn đến dị ứng nặng. Tuy nhiên nếu bạn nghi ngờ rằng mình có thể bị phản vệ với chất sử dụng để kiểm tra mẫu da thì bạn không nên thực hiện việc kiểm tra mẫu da này.

5. Chữa trị phản vệ như thế nào?

Chỉ có một cách điều trị phản vệ nhanh nhất đó là tiêm trực tiếp epinephrine (là một loại adrenaline) vào cơ thể và nó sẽ có khả năng nhanh chóng loại bỏ các triệu chứng phản vệ. Thường epinephrine được tiêm tự động vào cơ thể và nơi để tiêm thuốc này hữu hiệu nhất là ở đùi bệnh nhân.

Ngoài epinephrine ra, việc truyền dịch và thuốc cũng được sử dụng để giảm sốc phản vệ, giúp tim và hệ tuần hoàn hoạt động bình thường trở lại. Sau khi cơ thể đã ổn định, anti-histamines và steroids sẽ được dùng để tiếp tục giảm nhẹ các triệu chứng phản vệ hơn nữa.
Nếu bạn ở gần ai bị sốc phản vệ, hãy gọi ngay 115.

6. Phải chuẩn bị thế nào cho phản vệ?


Nếu bạn biết mình dễ bị phản vệ khi bị ong đốt hay ăn nhầm một chất gây dị ứng nào đó, thì bạn nên hỏi bác sỹ kê đơn cho bạn một túi đựng mũi tiêm epinephrine, và luôn đem theo bên mình để có thể sử dụng kịp thời.

Ngoài ra, bạn nên thông báo với cơ quan bảo hiểm y tế của chính bạn về tình trạng dị ứng của bạn, đặc biệt là các loại thuốc có thể khiến bạn bị dị ứng, trước khi bạn chữa trị bất kỳ bệnh gì, và nhất là trước khi bạn cần chữa trị tại nha khoa.

Bạn cũng nên đem theo một tờ ghi chú bên mình về tình trạng dị ứng của bạn để lỡ không may bạn bị sốc phản vệ thì sẽ được cấp cứu phù hợp và kịp thời.

Hiểu Biết Cơ Bản Về Bệnh Sởi (Measles hoặc Rubeola)

1. Định nghĩa

Bệnh sởi (tên tiếng Anh là measles hoặc rubeola) là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng hệ thống miễn dịch, và nhiễm trùng da, gây ra bởi virus (vi-rút) sởi, và có khả năng truyền nhiễm rất cao qua đường hô hấp.

Bệnh lây lan khi người không bệnh tiếp xúc với nước bọt, nước mũi, hay bất kỳ dung dịch nào tiết ra từ mũi và miệng người đã nhiễm bệnh sởi, hoặc cũng có thể bị lây nhiễm trực tiếp từ các hạt dung dịch trong không khí, bàn ghế, thanh cầm, v…v… rớt ra từ người nhiễm sởi trong vòng vài tiếng đồng hồ trở lại.

Khả năng truyền nhiễm của một người mắc bệnh sởi sang một người không có kháng thể chống virus sởi lên đến 90%.

Bệnh này thường xảy ra ở trẻ em hơn ở người lớn. Hình dưới đây là một trẻ em bị sởi. 
(Nguồn: http://media.graytvinc.com/images/measles16.jpg)



2. Triệu chứng

Trong vòng 7 đến 14 ngày từ khi bị nhiễm virus sởi, sẽ không có dấu hiện nhận biết gì.
Sau đó sẽ bắt đầu bằng sốt nhẹ, ho khan, chảy nước mũi, đau cổ họng, đau mắt đỏ, nhạy cảm với ánh sáng trong vòng 2-3 ngày tiếp theo đó.

Đến ngày thứ 3, trước khi đốm sởi xuất hiện, sẽ xuất hiện những đốm đỏ nhân trắng bên trong vòm miệng ở phía 2 bên má, gọi là đốm Koplik. Đây cũng là dấu hiện nhận biết bệnh sởi trước khi các đốm sởi xuất hiện.

Qua ngày thứ 3, các đốm sởi đỏ, thường dính chùm với nhau sẽ xuất hiện đầu tiên trên mặt, nhất là phía sau tai và dọc đường viền tóc.

Trong 4-5 ngày tiếp theo, bệnh sởi sẽ lan dần xuống tay, thân mình, đùi, chân, và bàn chân. Cùng lúc, sốt sẽ lên cao lến 104-105F (40-40.6C).

Sau đó bệnh sởi sẽ từ từ khỏi, và các đốm sởi sẽ biến mất dần bắt đầu từ mặt và dần dần xuống đến bàn chân.  

3. Nguyên nhân

Bệnh sởi gây ra bởi một loai virus gọi là paramyxovirus.  Đây là một dạng virus tạo bởi 1 chuỗi RNA theo chiều ngược (negative-sense single-stranded RNA viruses) và có tần số đột biến cao hơn nhiều so với các loại virus tạo bởi chuỗi DNA. Điều này khiến cho việc tạo vaccine để chống lại loại virus này khó khăn hơn nhiều, và thường không hiệu quả bằng các loại vaccine điều chế cho DNA virus. Điều này cũng lý giải tại sao qua thời gian, sẽ có khả năng những loại vaccine chống bệnh sởi hiện thời sẽ bị giảm tác dụng, hoặc không còn tác dụng do virus bệnh sởi đột biến và trở nên một dạng mới, dẫn đến việc kháng thể tạo ra bởi việc tiêm chủng vaccine hiện thời sẽ không còn tác dụng.

Năm 2011, ở thành phố New York, Mỹ, đã phát hiện một trường hợp bệnh nhân nữ 22 tuổi bị mắc bệnh sởi dù đã từng tiêm chủng đầy đủ, sau đó lây lan ra cho 4 người khác, và tất cả họ đều đã từng được tiêm chủng ngừa bệnh sởi, hoặc đã từng bị bệnh sởi (có nghĩa là họ đã có kháng thể chống bệnh sởi sẵn trong người, và lẽ ra sẽ không bao giờ bị mắc bệnh sởi nữa). Nghiên cứu sâu thêm cho thấy hệ miễn dịch của bệnh nhân này với virus sởi đã bị suy yếu và không còn khả năng trung hòa tính gây bệnh của virus sởi nữa. Kết quả này dẫn đến 2 kết luận chính:
1. Tác dụng của vaccine sau khi tiêm chủng kéo dài bao lâu là không xác định chắc chắn được 
2. Càng lớn tuổi thì hệ miễn dịch của con người sẽ càng yếu, nên việc bị nhiễm virus sởi từ những người chưa tiêm chủng ngừa sởi là hoàn toàn có thể xảy ra!

4. Phòng chống

Năm 1998, một nghiên cứu sai lầm tại Anh Quốc (sau đó đã bị bác bỏ hoàn toàn) đã cho rằng việc tiêm chủng gắn liền với chứng bệnh rối loạn phát triển não hay gọi nôm na là bệnh tự kỷ (autism) dẫn đến tỷ lệ tiêm chủng giảm thiểu đáng kể tại nước này xuống dưới 80% vào năm 2003-2004, dẫn đến việc hơn 1,100 trẻ em ở Anh Quốc bị nhiễm bệnh sởi vào năm 2009, trong khi con số này vào năm 2001 chỉ có 70!

Ở Mỹ và Việt Nam, gần đây tỷ lệ tiêm vaccine bệnh sởi cũng bị giảm đáng kể do ảnh hưởng bởi những luồng tin cho rằng việc tiêm vaccine có thể dẫn đến những tử vong không đáng có ở trẻ nhỏ. Và hậu quả tức thời là hiện tại đang có một dịch sởi lây lan ở Việt Nam, cũng như ở Mỹ. Điều này càng chứng tỏ tầm quan trọng của việc phòng chống sởi bằng việc tiêm vaccine là không thể chối cãi! Nếu tỷ lệ tiêm chủng của cộng đồng đạt mức trên 95% thì điều này sẽ rất có lợi cho toàn thể cộng đồng, vì như vậy sự hiện diện của virus sởi trong cộng đồng sẽ bị giảm thiểu, dẫn đến việc 5% không tiêm chủng còn lại cũng sẽ được hưởng lợi và rất hiếm khi bị nhiễm bệnh sởi.

Hiện tại (15/4/2014), bệnh sởi đang hoành hành tại Philippines, với 15,683 trường hợp nghi ngờ bị bệnh sởi (3,434 chắc chắn bị sởi) và 23 ca tử vong do bệnh sởi đã được thống kê tại nước này từ 1/1 đến 15/2, 2014. Hơn nữa, đã xuất hiện những người bị sởi ở Úc, Canada, Nhật, New Zealand, và Anh Quốc do họ trở về từ Philippines.

1. Do vậy, bước đầu tiên quan trọng nhất để ngừa bệnh sởi vẫn là tiêm chủng! Đặc biệt, đối với bệnh sởi, việc tiêm chủng 2 lần là cực kỳ quan trọng.
Đối với trẻ em ở Mỹ:
            Lần 1: khi trẻ em từ 12-15 tháng tuổi.
            Lần 2: khi trẻ em 4-6 tuổi.

Đối với trẻ em ở vùng có tỷ lệ bệnh sởi cao (Việt Nam):
            Lần 1: trong vòng 6-11 tháng tuổi. 
            Lần 2: khi hoặc sau khi sinh nhật 1 tuổi, và phải cách lần tiêm chủng 1 ít nhất 28 ngày.

Đối với người lớn:
            Lần 1: tất cả những ai sinh sau năm 1957 mà chưa được tiêm chủng ngừa sởi.
            Lần 2: cách lần 1 ít nhất 28 ngày.

2. Đối với những người đang bị bệnh sởi, nên hạn chế tối đa tiếp xúc với mọi người để hạn chế lây nhiễm, ít nhất là 4 ngày trước khi đốm sởi xuất hiện và 4 ngày sau khi đốm sởi đã xuất hiện.

3. Nếu bạn chưa được tiêm chủng ngừa sởi thì không nên đi du lịch đến những nước có tỷ lệ bệnh sởi cao.

4. Bổ sung dinh dưỡng có nhiều vitamin A, là loại vitamin rất cần để giúp hệ thống miễn dịch hoạt động tốt hơn. Đây là những loại thực phẩm có vitamin A nhiều nhất theo thứ tự giảm dần: khoai lang đỏ, cà rốt, rau lá xanh đậm, bí đỏ, rau xà lách xanh, mận-đào-mơ, dưa cam (Cantaloupe), ớt đà lạt, cá ngừ, các loại trái cây vùng nhiệt đới (xoài).

5. Chữa trị

Trong vòng 72 tiếng sau khi bị nhiễm virus sởi, vaccine cũng sẽ vẫn có tác dụng làm giảm thiểu sự tiến triển của bệnh sởi.

Phụ nữ có thai, trẻ em, và những người có hệ thống miễn dịch yếu sẽ có thể được truyền trực tiếp khảng thể globulin, và sẽ có hiệu quả giúp thuyên giảm bệnh sởi trong vòng 6 ngày kể từ khi bị nhiễm virus sởi.

Thuốc giảm sốt như acetaminophen (Tylenol), ibuprofen (Advil, motrin) có thể được sử dụng để giảm sốt, nhưng tuyệt đối không được cho trẻ em uống aspirin vì sẽ có khả năng dẫn đến những trường hợp phức tạp chết người khác (Reye’s syndrome).

Thuốc kháng sinh cũng có thể được dùng nếu như trong quá trình bị sởi, người bệnh bị nhiễm trùng tai hoặc viêm phổi gây ra do vi khuẩn.

Vitamin A với liều lượng cao ( 200,000 IU (international unit) trong vòng 2 ngày).

6. Tĩnh dưỡng

Khi bị bệnh sởi, người bệnh cần được đưa đến gặp bác sỹ ngay để chẩn đoán và điều trị kịp thời. Ngoài ra, người bệnh cần được nghỉ ngơi tối đa, uống thật nhiều nước lọc, nước trái cây, trà thảo dược (vì khi sốt cơ thể sẽ mất nhiều nước), giảm thiểu hoạt động mắt (đeo kính đen, tránh đọc sách và tiếp xúc máy tính hay ti vi).

Hiểu Biết Căn Bản Về Chứng Viêm Khớp

1. Viêm khớp là gì?

Viêm khớp là khi các khớp xương (nơi hai đầu xương gặp nhau) ở một hoặc nhiều nơi khác nhau trên cơ thể bị sưng tấy đỏ, dẫn đến đau đớn, biến dạng, và thậm chí cản trở khả năng sinh hoạt bình thường của bệnh nhân. Có hơn một 100 loại viêm khớp khác nhau, do những nguyên do khác nhau và cần được điều trị khác nhau. Viêm khớp thường xảy ra ở người lớn tuổi (trên 65 tuổi) hơn là ở người trẻ và trẻ em, ở phụ nữ nhiều hơn là nam giới, và ở người quá cân nhiều hơn là người không bị quá cân.


Trong hình dưới đây bên phải là bàn tay bình thường, và bên trái là bàn tay bị viêm khớp (Nguồn: http://www.uwmedicine.org/health-library/PublishingImages/HandWristArthritis_2.jpg)





2. Nguyên nhân dẫn đến viêm khớp

Lý do chung dẫn đến viêm khớp đó là khi hai đầu xương của khớp bị tổn thương (do bị cọ sát vào nhau, bị hết chất bôi trơn, bị hóa chất tác động, v…v…) dẫn đến tấy đỏ, và đau đớn. Còn lý do tại sao bị tổn thương như thế thì mỗi loại viêm khớp lại do một nhân tố khác nhau gây ra.

Loại viêm khớp phổ biến nhất đó là viêm xương khớp (osteoarthritis). Loại viêm khớp này xảy ra khi lớp sụn (cartilage - phần mô phủ ở đầu xương, giúp xương hấp thụ lực và giảm áp lực ở các khớp khi di chuyển) bị bào mòn dần qua năm tháng. Trong trường hợp lớp sụn này bị nhiễm khuẩn hay bị chấn thương, thì khả năng dẫn đến loại viêm khớp này sẽ càng cao. Ngoài ra bạn cũng sẽ có nguy cơ bị viêm xương khớp cao hơn nếu gia đình bạn có lịch sử bị bệnh này.

Loại viêm khớp phổ biến thứ hai đó là viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis). Loại viêm khớp này xảy ra khi hệ thống miễn dịch của chính cơ thể mình hủy hoại màng hoạt dịch (synovium), là một túi tiết dịch bôi trơn cho sụn và khớp xương, dẫn đến việc hai đầu xương bị chà sát vào nhau mà không có dầu bôi trơn ở giữa, làm cho lớp sụn bọc ở đầu xương và cả khớp xương dần bị bào mòn. Lý do tại sao hệ thống miễn dịch của con người trở nên “phản chủ” như thế vẫn chưa được tìm ra, nhưng các nhà khoa học đã tìm ra một số gen đánh dấu (genetic markers) nguy cơ dẫn đến căn bệnh này.

Một loại viêm khớp nữa khá phổ biến đó là bệnh gút (gout). Loại viêm khớp này xảy ra khi có quá nhiều acid uric được tích tụ trong máu, dẫn đến việc hình thành những khối kết tủa urate, có hình dạng sắc nhọn như kim ở các khớp xương và vùng mô quanh khớp xương, dẫn đến đau đớn, sưng và tấy đỏ. Những thức ăn có khả năng làm tăng lượng acid uric trong máu gồm có thịt, cá cơm (anchovies), cá trích (herring), măng tây (asparagus), và nấm.

3. Chẩn đoán viêm khớp

Khi khớp xương bị đau nhức, sưng, mềm, tấy đỏ, và cử động khó khăn, nhất là vào buổi sáng thì bạn có khả năng đang bị viêm khớp.

Trong trường hợp của viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis), bạn có thể sẽ không thấy ngon miệng khi ăn và có sốt nhẹ. Nếu không được điều trị kịp thời, khớp có thể bị biến dạng nhanh chóng.


Khi bạn thấy mình có những dấu hiệu trên thì nên đến khám bác sỹ ngay để họ chẩn đoán xem bạn bị loại viêm khớp nào và điều trị kịp thời.

Thông thường bác sỹ sẽ thử khả năng di chuyển của khớp đang bị viêm, đồng thời lấy máu hoặc dịch ở khớp từ cơ thể bạn để chẩn đoán chính xác xem bạn bị loại viêm khớp nào. Ngoài ra, họ cũng sẽ chụp X-quang, hoặc MRI (magnetic resonance imaging), hay chụp cắt lớp vi tính CT scans (computerized tomography scans) để chẩn đoán chính xác hơn.

4. Điều trị viêm khớp

Mục đích chính của việc điều trị viêm khớp là để giảm thiểu đau đớn gây ra bởi khớp bị viêm, hạn chế gia tăng tổn thương khớp, và giúp cho các hoạt động của khớp tốt hơn.

Những loại thuốc dùng để điều trị viêm khớp gồm có:

1. Thuốc giảm đau (Vicodin, Tylenol).

2. Thuốc giảm đau và sưng tấy (NSAIDs - Nonsteroidal anti-inflammatory drugs). Thuốc loại này có khả năng làm tăng nguy cơ đột quỵ tim, đột quỵ não, hay làm dạ dày khó chịu.

3. Kem bôi menthol hay capsaicin cũng có khả năng làm giảm việc truyền tín hiệu đau đớn.

4. Nếu bạn bị viêm khớp dạng thấp, bác sỹ của bạn có thể sẽ yêu cầu bạn uống DMARDs (disease-modifying antirheumatic drugs) để hạn chế sự hoạt động của hệ miễn dịch. 

Phẫu thuật để thay khớp bị viêm bằng một khớp giả cũng là một lựa chọn khả thi.

Vật lý trị liệu cũng rất quan trọng trong việc gia tăng sức mạnh của cơ bắp quanh vùng viêm khớp. Các bạn nên được bác sỹ tư vấn để có một chế độ tập luyện phù hợp và hiệu quả.


Ngoài ra, việc tập thể dục mỗi ngày, và một chế độ dinh dưỡng hợp lý giàu canxi, với nhiều trái cây, rau củ, các loại hạt nguyên để tránh béo phì là rất cần thiết cho việc phòng tránh và điều trị viêm khớp.

Tuesday, June 2, 2015

Tai Biến Mạch Máu Não

Theo thống kê của Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới (WHO), vào năm 2011, Việt Nam đứng thứ 7 trên thế giới về số ca bị tai biến mạch máu não (TBMMN) với tỉ lệ cứ 100,000 người thì có 173 người bị mắc chứng này. 

1. Thế nào là tai biến mạch máu não?

Tai biến mạch máu não xảy ra khi đường dẫn máu đến nuôi não bị tắc nghẽn. Thời gian máu lên não bị tắc nghẽn càng lâu thì não càng bị tổn thương nặng hơn. Nếu TBMMN không được chữa trị kịp thời thì tổn thương não sẽ dẫn đến bại liệt, tàn tật, hoặc tử vong.

Có 2 loại TBMMN chính:

1. Nhồi máu não (do tắc mạch máu): chiếm 80-90% các ca TBMMN. Nhồi máu não xảy ra khi có vật cản ngăn máu chảy về não. Vật cản này có thể được tao ra ở đâu đó trong cơ thể và bị kẹt lại khi đến mạch máu não, hoặc cũng có thể được tạo ra ngay trong mạch máu não. 

2. Chảy máu não (do vỡ mạch máu): mạch máu não bị bể ra và máu trào ra ngoài dưới áp suất cao, đè lên các mạch máu não khác dẫn đến tổn thương và tử vong. Việc chảy máu trong não này rất khó ngăn chặn và vì thế cũng dẫn đến tỉ lệ tử vong cao hơn.

Hai loại này phải được chữa trị khác nhau và thường được chẩn đoán bằng cách chụp X-quang toàn đầu (CT scan) và đôi khi là chụp cộng hưởng từ (MRI).

2. Kiểm chứng TBMMN: cười, vẫy, nói


Hình minh họa ở trên là một ca tiêu biểu của TBMMN. Sau đây là bài kiểm chứng nhanh để xác định một người có bị TBMMN hay không: 
  • C = cười: một bên mặt bị xụi xuống, không cười được
  • V = vẫy: không thể giơ hai tay lên vẫy được
  • N = nói: bị líu lưỡi và không thể hiểu được những câu đơn giản
Hãy gọi ngay 115 (nếu bạn sinh sống ở Việt Nam) khi bạn thấy ai đó có những biểu hiện kể trên của TBMMN nhé!  

3. Nguyên nhân dẫn đến TBMMN

Khi các thành phần như cholesterol, canxi, chất béo, và các chất khác bị dồn chất lên nhau thì sẽ làm cho mạch máu bị hẹp lại, dễ tạo nên khối đông cản trở lưu thông máu. Khi cục đông bị bể ra thì sẽ làm tắc nghẽn những mạch máu não nhỏ hơn. Và thỉnh thoảng, mạch máu não sẽ bị bể dẫn đến chảy máu não.

4. Những nguy cơ dẫn đến TBMMN

Những điều kiện mãn tính làm tăng khả năng TBMMN gồm có: (1) lượng cholesterol cao, (2) cao huyết áp, (3) béo phì, và (4) tiểu đường. Ngoài ra, TBMMN còn phụ thuộc yếu tổ gen di truyền trong gia đình, giới tính (nam giới có nguy cơ bị TBMMN cao hơn nữ giới nhưng phụ nữ bị TBMMN thì thường dễ bị tử vong hơn đàn ông), và chủng tộc.

5. Làm sao để giảm thiểu nguy cơ TBMMN?

(1) Một chế độ dinh dưỡng với hàm lượng cholesterol và chất béo thấp sẽ có khả năng giảm nguy cơ TBMMN rất cao vì nó giảm thiểu khả năng mạch máu bị tắc nghẽn do sự tồn đọng của cholesterol và chất béo. 

(2) Tránh ăn mặn vì ăn mặn làm tăng huyết áp. 

(3) (4) Tránh béo phì và tiểu đường bằng việc ăn uống điều độ, tăng cường rau củ quả, hạt nguyên, cá, giảm bớt thịt, và đi kèm với việc tập thể dục thể thao ít nhất 30 phút mỗi ngày. 

Ngoài ra, không hút thuốc lá (và các loại thuốc gây nghiện khác), không uống bia rượu cũng sẽ giúp làm giảm thiểu nguy cơ TBMMN.