Friday, May 29, 2015

Tại Sao Không Nên Ăn Mặn?



Muối (sodium) giúp cân bằng lượng chất lỏng trong cơ thể, giúp truyền xung lực não, và ảnh hưởng đến hoạt động co giãn cơ.

Thận là cơ quan chính điều khiển lượng muối trong cơ thể. Khi lượng muối xuống thấp, thận sẽ giữ muối lại; khi lượng muối tăng cao, thận sẽ lọc muối và thải ra theo đường nước tiểu. Khi lượng muối quá cao, và thận không thể lọc ra cho kịp hết phần dư, thì muối sẽ tích tụ trong máu. Vì muối giữ nước, nên sẽ làm tăng thể tích máu, khiến tim phải làm việc cật lực hơn để di chuyển máu trong các mạch máu, dẫn đến tăng áp suất trong các động mạch, và tăng nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp (hypertension). Các bệnh như suy tim xung huyết (congestive heart failure), xơ gan (cirrhosis), và suy thận mãn tính (chronic kidney disease) đều dẫn đến mất khả năng lọc muối của thận.


Có người mẫn cảm với muối nhiều hơn những người khác. Đối với những trường hợp như thế, muối sẽ được hấp thụ và giữ lại nhiều hơn trong cơ thể, khiến tăng huyết áp dễ dàng, và kéo theo nguy cơ dẫn đến các bệnh về thận và tim mạch cao hơn.


Như thế nào là đủ?  


Lượng muối cho phép - do các tổ chức khuyến cáo [trong đó bao gồm Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia về Y Tế của Mỹ] - là từ 1500 đến 2300 milligrams (mg) mỗi ngày cho một cá thể trưởng thành và khỏe mạnh. Càng lớn tuổi thì càng nên giảm lượng muối tiêu thụ mỗi ngày. Và nếu hấp thụ ít muối hơn thì sẽ tốt hơn cho huyết áp.


Nếu bạn trên 50 tuổi, hoặc da màu, hoặc bạn đang có chứng cao huyết áp, hoặc suy thận mãn tính, hoặc tiểu đường thì bạn có nguy cơ mẫn cảm với muối cao hơn.


Muối đến từ đâu?


Trong chế độ ăn uống của chúng ta, muối đến từ 3 nguồn chính:


1. Thực phẩm đã chế biến và thức ăn làm sẵn. 77% muối trong khẩu phần ăn hằng ngày đến từ nguồn này.


2. Gia vị nấu nướng. Mỗi một muỗng cà phê (1 teaspoon) muối thì có 2325mg muối, và một muỗng canh (1 tablespoon) xì dầu chứa 1005 mg muối. 11% lượng muối trong khẩu phần ăn hằng ngày đến từ nguồn này.


3. Các nguồn tự nhiên khác, như thịt, rau củ quả, trứng sữa, v...v... Ví dụ như trong 300ml (1 cup) sữa ít béo, có khoảng 110mg muối. 12% lượng muối trong khẩu phần ăn hằng ngày đến từ nguồn này.


Lượng muối trong khẩu phần ăn hằng ngày như thế sẽ dễ dàng vượt quá mức chỉ định là từ 1500 đến 2300mg mỗi ngày. Chính vì thế nên Hiệp Hội Qủan Lý Thức Ăn và Thuốc (Food and Drug Administration) của Mỹ trong tương lai gần sẽ phải đưa ra một hạn định mới cho muối chứa trong các sản phẩm thức ăn chế biến sẵn.


Làm sao để giảm lượng muối tiêu thụ mỗi ngày?


1. Tăng lượng thức ăn tươi - sống: trái cây tươi và rau củ tươi chứa ít muối, và các loại thịt tươi sống cũng chứa ít muối hơn thịt heo xông khói (bacon), xúc xích, và các loại thức ăn đã qua chế biến sẵn.


2. Gỉam thiểu lượng muối khi nấu ăn cũng như khi ăn ở các hàng quán.


3. Tránh các loại thức ăn có nhiều muối như các loại khoai tây chiên (chips), sốt xà lách (salad dressings, dips), tương cà chua (ketchup), mù tạc (mustard), các lọai thức ăn nhanh, v...v...

Monday, May 18, 2015

Cơn Nghiện Thời Đại Mới: Điện Thoại Di Động!

Dựa trên các số liệu thống kê từ các nguồn khác nhau cho các nhóm người khác nhau trên thế giới, thời gian trung bình chúng ta dán mắt vào màn hình điện thoại di động (ĐTDĐ)  dao động trong khoảng 1 đến 5 tiếng đồng hồ mỗi ngày, tương đương với 15 ngày đến 76 ngày trong một năm. Đây là thời gian trung bình một người không nghiện ĐTDĐ dành cho thiết bị này, nên bạn hãy tưởng tượng với những người mắc chứng nghiện ĐTDĐ thì con số này sẽ còn đến mức nào?   

1. Chứng nghiện ĐTDĐ có phải là thật?

Có một câu nói được cho là lời tiên tri của nhà bác học lỗi lạc Albert Einstein như thế này: “Tôi lo sợ sẽ có ngày khoa học kỹ thuật sẽ xâm hại và vượt lên cả sự tương tác giữa người với người. Khi đó, thế giới này sẽ là nơi hội tụ của những thế hệ ngu ngốc.” Và điều đó có lẽ đang xảy ra với sự tràn ngập của các thiết bị di động, đặc biệt là các thế hệ “smart phone” – điện thoại thông minh – như iphone, android, S-galaxy, v…v…


Các bạn có nhận thấy hình ảnh ở trên quen thuộc không? (Lưu ý: hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa). Ngay cả những khi chúng ta có dịp gặp mặt nhau thì những tin nhắn, facebook, twitter, pinterest, instagram… vẫn không ngừng gián đoạn cuộc nói chuyện giữa người với người, để thay vào đó là sự tương tác giữa người với máy.

Vào năm 2005, hai nhà khoa học Adriana Bianchi và James G. Phillips tại khoa Tâm Lý Học đại học Monash, Úc, là hai người tiên phong đưa ra những chuẩn mực để xác định sự nghiện ngập ĐTDĐ ở một cá thể. Họ gọi những chuẩn mực đó là MPPUS (Mobile Phone Problem Use Scale – thước đo những vấn đề gây ra bởi ĐTDĐ). Dựa trên chuẩn MPPUS này, các nhóm nghiên cứu khác đã liên tục đưa ra những kết luận khẳng định chứng nghiện ĐTDĐ trong cộng đồng của họ (Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Ấn Độ, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Iran, Nam Hàn Quốc, Nhật Bản, v…v…) là có thật và là một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt trong giới trẻ. Thậm chí vào năm 2014, ở Ấn Độ, người ta đã mở cả một bệnh viện chuyên trị chứng nghiện ĐTDĐ và các trò chơi điện tử nữa.

2. Dấu hiệu của chứng nghiện ĐTDĐ

Theo nghiên cứu được công bố vào tháng 2/2015 trên tạp chí khoa học Sức Khỏe Cộng Đồng Quốc Tế của nhóm khoa học gia dẫn đầu bởi tiến sỹ Milena Foerster trên 412 thiếu niên tại Thụy Sỹ thì có 4 dấu hiệu nổi bật nhất của sự nghiện ngập điện thoại di động ở các thanh thiếu niên này dựa trên chuẩn MPPUS đó là:
1. Thèm muốn được dùng ĐTDĐ
2. Mất khả năng kiểm soát
3. Ngại giao tiếp
4. Gây ra những hậu quả tiêu cực trong khía cạnh xã hội, gia đình, công việc, và tài chính do bị chi phối bởi ĐTDĐ
5. Ngoài ra còn có một dấu hiệu thứ 5 là hệ quả xã hội của việc nghiện ĐTDĐ đó là sự lệ thuộc vào bạn bè đồng trang lứa

3. Một số hậu quả điển hình của việc nghiện ĐTDĐ

Nhà khoa học Sanjeev Davey và Anuradha Davey thuộc khoa Y Khoa Cộng Đồng tại trường Y/Bệnh Viện Muzaffarnagar, Ấn Độ công bố kết quả nghiên cứu mức độ nghiện ĐTDĐ của thanh thiếu niên Ấn Độ là 33%-44%. Và điều này không những ảnh hưởng xấu đến những kỹ năng giao tiếp của các em mà còn gây nguy hiểm đến sức khỏe cũng như dẫn đến những tác động tiêu cực về mặt tâm lý nữa.

Sau đây là một số hậu quả điển hình nhất của chứng nghiện ĐTDĐ:

+ Tai nạn giao thông: việc sử dụng ĐTDĐ khi lái xe đã bị cấm và bị xem là phạm pháp ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chỉ cần bạn trả lời một tin nhắn ngắn gọn 1 chữ như “OK” cũng mất ít nhất 5 giây và thời gian đó đủ để một tai nạn giao thông xảy ra. Theo một kết quả khảo sát trên 1000 người lái xe ô tô vào năm 2014 vừa qua trong chương trình “Vì Cộng Đồng Ô Tô Việt” thì có đến hơn 31% thừa nhận họ có nhắn tin khi đang lái xe.

+ Nợ nần: do việc thường xuyên thay đổi ĐTDĐ theo trào lưu, trả tiền mua các app mới, hay trả tiền mua hàng hóa ảo trong các trò chơi điện tử, v…v…

+ Mất tập trung: trong việc học hành, công việc, quan hệ cá nhân, v…v… dẫn đến việc hoạt động kém hiệu quả trong mọi lãnh vực, thậm chí ảnh hưởng đến cả sức khỏe và tâm lý của bản thân.

+ Giao tiếp kém: khả năng tương tác và giao tiếp bằng ngôn ngữ với những người xung quanh bị suy giảm.

Còn đây là một phim hoạt hình về chứng nghiện ĐTDĐ và những hậu quả tai hại của nó. Các bạn xem thử nhé! https://www.youtube.com/watch?v=6Mwpmjf6cwE

4. Một số câu hỏi tự trắc nghiệm xem bạn có đang bị nghiện ĐTDĐ hay không

Sau đây là 27 câu khẳng định mà chuẩn MPPUS đưa ra để bạn có thể tự xác định xem mình có đang mắc chứng nghiện ĐTDĐ không nhé! ;)

1. Tôi không bao giờ cảm thấy chán dùng ĐTDĐ.
2. Tôi dùng ĐTDĐ để cảm thấy vui hơn mỗi khi buồn.
3. Tôi dành thời gian cho ĐTDĐ trong khi lẽ ra tôi phải dành thời gian đó để làm việc khác, và điều này dẫn đến rắc rối cho tôi.
4. Tất cả bạn bè tôi đều dùng ĐTDĐ.
5. Tôi cố tình muốn dấu bạn bè về lượng thời gian tôi dán mắt vào ĐTDĐ.
6. Tôi mất ngủ vì dùng ĐTDĐ quá nhiều.
7. Tôi tốn tiền vì ĐTDĐ và không có khả năng chi trả chi phí đó.
8. Khi ĐTDĐ của tôi nằm ngoài vùng phủ sóng, tôi cảm thấy lo lắng rằng mình sẽ vuột mất một cuộc gọi của ai đó.
9. Khi tôi vừa dùng ĐTDĐ và vừa làm việc gì đó khác, tôi bị mất tập trung và không biết mình đang làm gì nữa.
10. Thời gian tôi dùng ĐTDĐ ngày một tăng dần lên trong vòng 12 tháng qua.
11. Tôi dùng ĐTDĐ như một công cụ giao tiếp với những người khác khi tôi cảm thấy bị cô lập.
12. Tôi đã cố giảm bớt lượng thời gian dành cho ĐTDĐ nhưng không được.
13. Tôi cảm thấy rất khó để mà có thể tắt ĐTDĐ đi được một lúc.
14. Tôi cảm thấy bồn chồn không yên nếu tôi không kiểm tra tin nhắn hay bật ĐTDĐ lên xem trong một lúc lâu.
15. Tôi thường hay có những giấc mơ về ĐTDĐ.
16. Bạn bè và gia đình đã và đang phàn nàn về việc tôi dùng ĐTDĐ quá nhiều.
17. Nếu tôi không có ĐTDĐ, tôi sợ bạn bè sẽ khó liên lạc được với tôi.
18. Năng suất lao động của tôi bị giảm sút do việc tôi dành nhiều thời gian cho ĐTDĐ.
19. Tôi bị đau nhức ở một số nơi trên cơ thể do việc sử dụng ĐTDĐ.
20. Tôi nhận thấy mình dành nhiều thời gian cho ĐTDĐ hơn tôi dự định.
21. Có những lúc tôi thà dành thời gian cho ĐTDĐ hơn là giải quyết một số vấn đề khác cấp bách hơn.
22. Tôi thường bị trễ hẹn vì tôi bị cuốn vào ĐTDĐ.
23. Tôi trở nên dễ cáu bẳn nếu tôi phải tắt điện thoại khi họp hành, ăn tối, hay xem phim.
24. Đã có người nói với tôi rằng tôi dành quá nhiều thời gian cho ĐTDĐ.
25. Tôi đã gặp rắc rối khi ĐTDĐ của tôi reng lên trong cuộc họp, lớp học, hay rạp chiếu phim.
26. Bạn bè tôi không thích khi tôi tắt điện thoại.
27. Tôi cảm thấy mất phương hướng trong cuộc sống khi không có ĐTDĐ.

Theo nhà khoa học Baroness Susan Greenfield, tác giả của quyển “Mind Change” (Thay Đổi Tư Duy), thời đại kỹ thuật số này có khả năng thay đổi não chúng ta theo cả chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực: “Nếu chúng ta không nói chuyện với nhau mặt đối mặt, sẽ rất khó để thiết lập sự đồng cảm giữa người với người.” Và điều này góp phần giải thích tại sao chất “người” trong nhân loại sẽ có nguy cơ bị suy giảm dần khi máy móc lên ngôi! 

Saturday, May 9, 2015

Điều Gì Xảy Ra Khi Bạn Ngưng Hút Thuốc Lá?



Tính đến tháng 5/2014, có hơn 1 tỷ người hút thuốc lá, đa phần thuộc các nước có thu nhập vừa hoặc thấp. Thuốc lá giết chết khoảng 6 triệu người mỗi năm, và cứ 1 người chết vì hút thuốc lá thì sẽ có 30 người xung quanh họ bị bệnh nặng do khói thuốc lá gây ra. Đến năm 2030, con số này có thể sẽ tăng lên đến 8 triệu người chết vì thuốc lá mỗi năm. Ngoài việc thuốc lá hiện thời vẫn là một yếu-tố-có- thể-thay-đổi-được lớn nhất dẫn đến ung thư thì việc nghiện thuốc lá còn khiến bạn bị nhiều bệnh về đường tim mạch (ví dụ như: đột quỵ tim) và gây đột quỵ não nữa!

1. Bạn có muốn bỏ thuốc lá?

Phần lớn (88%) những người hút thuốc đều bày tỏ mong muốn bỏ thuốc. Gần như cứ 10 người thì 9 người tuyên bố họ muốn dừng hút thuốc vì lo lắng cho sức khỏe. Lý do thường thấy kế tiếp là muốn tiết kiệm tiền bạc. Khoảng chừng 50% những người hút thuốc đều đã ít nhất 1 lần cố gắng bỏ thuốc trong vòng 1 năm, nhưng chỉ có từ 2-3% trong số họ thành công trong việc bỏ thuốc lâu dài. Tuy nhiên, lý do tại sao có người thành công trong việc bỏ thuốc còn có người không thì không rõ. Nguyên nhân chính dẫn đến việc nghiện thuốc lá là do chất nicotine được nhanh chóng truyền lên não mỗi lần rít thuốc. Và nicotine thì có đầy đủ các tố chất để được xếp vào hàng chất gây nghiện

2. Những thay đổi có lợi cho sức khỏe khi bỏ thuốc lá

Ngưng hút thuốc không bao giờ là quá trễ. Mỗi một điếu thuốc lá đều gây tổn hại không thể phục hồi cho phổi, và những tổn hại này sẽ không xuất hiện tức thời mà chỉ bắt đầu thấy rõ trong những năm về sau đó. Sau tuổi 35-40, mỗi một năm tiếp tục hút thuốc sẽ khiến bạn mất đi 3 tháng tuổi thọ. Có nhiều người nghiện thuốc cho rằng cuộc sống của họ sẽ trở nên tệ hại hơn nếu họ ngừng hút thuốc, nhưng sự thật hiển nhiên là nếu ngừng hút thuốc, họ sẽ có những thay đổi tốt đẹp về mặt tâm lý và hạnh phúc hơn.
Dưới đây là bảng chi tiết về những ích lợi tức thời của việc bỏ thuốc lá, tính từ thời điểm bạn quyết định ngưng hút thuốc!

Thời gian tính từ khi ngừng hút thuốc Những biến chuyển có lợi cho sức khỏe
8 tiếng Nicotine và khí carbon monoxide [CO] trong máu sẽ giảm xuống một nửa, lượng Oxygen [O2] trong máu trở lại như bình thường. Hệ tuần hoàn hoạt động tốt hơn.
24 tiếng CO và nicotine trong máu được loại bỏ hoàn toàn
48 tiếng Nguy cơ phổi hoạt động kém và nguy cơ ung thư phổi giảm xuống một nửa so với khi còn hút thuốc
1 tháng Có biến chuyển tốt về ngoại hình – da sẽ mất đi màu tái xám và bớt đi nếp nhăn
3-9 tháng Bớt ho và bớt thở khò khè
1 năm Nguy cơ bị đột quỵ tim giảm một nửa so với khi còn hút thuốc
15 năm Nguy cơ bị đột quỵ tim xuống ở mức tương đương với những người chưa bao giờ hút thuốc

3. Những triệu chứng đi kèm khi bỏ thuốc lá

Những biến chuyển về cơ thể và tâm lý này xảy ra do kết quả của việc ngừng hút thuốc. Những triệu chứng này chỉ là tạm thời và là sự thích ứng của não và cơ thể khi ngưng hấp thụ chất gây nghiện.

Triệu chứng
Thời gian kéo dài
Tỷ lệ những người ngưng hút thuốc bị ảnh hưởng bởi những triệu chứng này
Dễ cáu kỉnh/Hay gây sự
< 4 tuần
50%
Chán nản và phiền muộn
< 4 tuần
60%
Bồn chồn, không yên
< 4 tuần
60%
Kém tập trung
< 2 tuần
60%
Ăn ngon miệng hơn
> 10 tuần
70%
Chóng mặt
< 48 tiếng
10%
Thức dậy giữa đêm
< 1 tuần
25%
Đói
> 2 tuần
70%

4. Tăng cân

Khả năng tăng cân khi ngưng hút thuốc lá là một trong những mối quan tâm hàng đầu của những người muốn bỏ thuốc, đặc biệt là phái nữ. Hiện tượng tăng cân thường xảy ra trong vòng 1 năm, và trung bình là người bỏ hút thuốc sẽ tăng khoảng 5kg. Tuy nhiên, lượng tăng cân này không nhiều đến mức khiến bạn phải lo lắng đến chuyện ăn kiêng, và hơn nữa, không đáng gì so với những lợi ích về sức khỏe khi bạn ngưng hút thuốc cả!

Bỏ thuốc lá là một cuộc đấu tranh cá nhân đầy cam go, gay cấn, mà có lẽ chỉ có tình yêu với những người xung quanh mới cho họ đủ động lực để biến việc bỏ thuốc lá thành hiện thực! 

Saturday, May 2, 2015

Khoa Học Về Những Giấc Mơ


1. Giả thuyết về những giấc mơ

Từ nhiều thế kỷ qua, con người đã luôn cố gắng tìm cách giải thích những giấc mơ. Các nghiên cứu về giấc mơ đưa đến 2 giả thuyết trái ngược nhau. Giả thuyết thứ 1 tin rằng giấc mơ là một hoạt động tâm lý không thể thiếu của con người. Trong khi đó giả thuyết thứ hai cho rằng giấc mơ chỉ đơn thuần là kết quả của những kích thích thể lý.

Người đi đầu về giả thuyết thứ 1 của những giấc mơ là tiến sỹ Sigmund Freud. Theo ông, giấc mơ là lối thoát cho những ham muốn mà con người không thể tự do biểu đạt trong bối cảnh xã hội. Nối tiếp Freud trong giả thuyết thứ nhất này là Carl Jung. Ông cho rằng giấc mơ phản ánh tâm thức của con người và giúp họ giải quyết những khúc mắc cá nhân.


Hai nhà khoa học Allan Hobson và Robert McCarley là những đại diện cho giả thuyết thứ hai. Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy giấc mơ là kết quả của những xung lực điện phát ra từ não, kéo theo những hình ảnh quá khứ đã được lưu trữ trong trí nhớ trước đó. Những hình ảnh này là bất kỳ và chính phần còn thức của não bộ là tác giả của những "câu chuyện" nối kết những hình ảnh đó. Lý do của hiện tượng này chỉ đơn giản là vì não bộ luôn muốn sắp xếp những gì nó đã trải nghiệm theo một trật tự có nghĩa.


2. Giấc mơ và não bộ

Khi ngủ, con người ta trải qua 5 giai đoạn:

1. Ngủ nhẹ và rất dễ bị đánh thức.


2. Ngủ sâu hơn.


3 & 4. Ngủ say. Hoạt động của não bộ chậm lại từ từ qua từng giai đoạn để đến giai đoạn ngủ say, thì não bộ chỉ bao gồm sóng não thấp nhất.


5. Khoảng chừng 90 phút sau khi ngủ và sau giai đoạn 4 thì bắt đầu giai đoạn 5, gọi là "REM" (Rapid Eye Movement - tạm dịch là "giai đoạn chuyển động nhanh của mắt").


Trong giai đoạn REM, nhịp tim và hơi thở nhanh hơn bình thường, huyết áp máu tăng, khả năng tự điều chỉnh nhiệt độ cơ thể giảm đi đáng kể, và hoạt động của não bộ tăng cao tương đương với khi thức hoặc có thể cao hơn. Tuy nhiên, tất cả những phần khác của cơ thể thì hoàn toàn tê liệt cho tới khi giai đoạn REM kết thúc.


REM cũng là lúc mà phần lớn những giấc mơ xảy ra, vì thế nên lý do mà cơ thể hoàn toàn tê liệt trong giai đoạn này cũng là một cách của tự nhiên để tránh trường hợp con người ta trực tiếp thể hiện những hành động khi mơ cùng lúc với giấc mơ. Nếu bạn bị mắc chứng rối loạn REM, thì trong giai đoạn này, bạn sẽ không bị tê liệt và sẽ “sống” giấc mơ của mình như nó đang diễn ra. Điều này rất nguy hiểm vì khi đó bạn không có ý thức để kiểm soát được hành động của mình.


Trung bình mỗi đêm ngủ, con người ta sẽ trải qua 5 giai đoạn kể trên 4-5 lần. Cứ sau mỗi chu kỳ thì giai đoạn REM tăng dần và giai đoạn ngủ say (3 & 4) giảm dần. Cho đến gần về sáng thì chỉ còn lại giai đoạn 1, 2 và 5. Giai đoạn ngủ say mất hẳn.


Có nhiều tranh cãi xoay quanh vai trò và tầm quan trọng của giai đoạn REM - giai đoạn được xem là giai đoạn “tái hiện hiện thực” và “tổng hợp thông tin” của não bộ. Một giả thuyết về REM cho rằng nó giúp cho não bộ củng cố và cân bằng hóa bộ nhớ, đồng thời loại bỏ những tương tác bất thường của mạng lưới não bộ. Ngoài ra REM còn giúp chúng ta tổng hợp những kiến thức đã tiếp thu khi tỉnh để chuẩn bị sẵn cho việc giải quyết vấn đề khi cần.



3. Một vài thông tin thú vị về giấc mơ

- Đa số giấc mơ kéo dài từ 5 đến 20 phút.

- Giấc mơ có màu sắc, không chỉ là trắng đen như người ta từng nghĩ.


- Mỗi đêm con người ta mơ nhiều lần, chỉ có điều họ không nhớ mà thôi. Trung bình con người dành 6 năm trong đời cho những giấc mơ.


- Đối với những người mù bẩm sinh, giấc mơ của họ được tạo nên từ những giác quan khác (xúc giác, khứu giác, thính giác).


- Khi ngáy, con người ta không hề mơ!


- Voi (và một số động vật khác) ngủ đứng trong giai đoạn 1, 2, 3, và 4 nhưng nằm xuống khi vào giai đoạn REM.


- Khi bị thiếu ngủ, chúng ta sẽ rơi vào trạng thái REM nhanh hơn bình thường.


- Giai đoạn REM sẽ ngắn dần khi tuổi tác tăng lên. 


5. Làm sao để nhớ những giấc mơ?

Chỉ 5 phút sau khi mơ là con người ta đã quên hết 50% nội dung giấc mơ đó, 10 phút sau đó con số sẽ là 90%. Vì sao lại có thể quên nhanh như thế?


Theo tiến sỹ Freud, con người quên giấc mơ nhanh là vì giấc mơ chất chứa những suy nghĩ bị đè nén và những mong ước thầm kín của họ nên họ cũng chẳng muốn nhớ những giấc mơ làm gì cả. Còn theo Strumpell, một nhà nghiên cứu giấc mơ khác, thì đưa ra một số nguyên nhân khác. Ông cho rằng khi mới ngủ dậy con người ta dễ quên nhiều thứ, nhất là những cảm giác thể lý. Hơn nữa, những hình ảnh trong mơ thường mơ hồ nên lại càng dễ quên hơn. Một dẫn giải khác cho hiện tượng này là vì con người học và nhớ một điều gì đó bằng "liên tưởng" và "lặp lại." Trong khi đó mỗi giấc mơ thường là duy nhất, nhập nhằng, và gần như không lặp lại nên khó nhớ là chuyện dễ hiểu.


Nếu vì một lý do nào đó mà bạn muốn nhớ giấc mơ của mình thì sau đây là một vài cách:


- Khi đi ngủ, hãy tự nói với bản thân là bạn sẽ nhớ giấc mơ của mình.


- Vặn đồng hồ báo thức đổ cứ sau mỗi tiếng rưỡi để bạn sẽ thức giấc ngay sau giai đoạn REM, cũng là lúc mà bạn sẽ nhớ giấc mơ của mình rõ ràng nhất.


- Để sẵn giấy và viết bên giường ngủ để khi thức giấc bạn có thể ghi chép lại giấc mơ của mình.


- Khi tỉnh dậy, hãy tỉnh dậy từ từ để giữ lại được trạng trái đầu óc khi trong mơ.