Friday, April 24, 2015

Thời Đại Của Biến Đổi Gen Người: Đã Đến Lúc Hay Chưa?

Ngày 22/4/2015 vừa qua, một nhóm các nhà khoa học tại Trung Quốc, dẫn đầu bởi nhà nghiên cứu gen Junjiu Huang tại đại học Sun Yat-sen (Tôn Dật Tiên) tỉnh Quảng Đông, đã công bố kết quả của thí nghiệm biến đổi gen từ trong phôi thai người đầu tiên trên thế giới qua tạp chí khoa học Protein & Cell. Theo lời của một nguồn tin từ Trung Quốc thì hiện tại có ít nhất 4 nhóm nghiên cứu khác trong nước đang theo đuổi việc biến đổi gen từ trong phôi thai người này! Ngoài ra, trên thế giới cũng có những tin đồn rằng có những nhóm các nhà khoa học khác đã hoặc đang tiến hành những nghiên cứu tương tự trong bí mật. 

Vậy họ đã làm điều đó thế nào?



1. Chọn lựa phôi thai

Để tránh những tranh luận về vấn đề đạo đức, nhóm nghiên cứu của tiến sỹ Huang đã sử dụng những phôi thai người được thụ tinh trong ống nghiệm nhưng đã bị loại bỏ vì có 2 tinh trùng trong một trứng, dẫn đến việc tế bào phôi thai này tuy vẫn phát triển được nhưng sẽ không sống được thành người. 

Điều này tuy nhiên cũng là một hạn chế vì thí nghiệm trên phôi thai lỗi sẽ có khả năng đưa ra những kết quả không chính xác, và do đó, kết quả nhận được có thể sẽ không áp dụng được trên phôi thai bình thường. 

Những phôi thai lỗi này ngoài ra còn bị đột biến gen HBB, dẫn đến chứng bệnh di truyền về máu gây tử vong gọi là β-thalassaemia. Và đây cũng chính là gen mục tiêu mà nhóm nghiên cứu này sẽ thay đổi.

2. Sửa chữa gen bị lỗi 

Tiếp đó họ tiêm vào những phôi thai này một tổ hợp chất xúc tác gọi là CRISPR/Cas9. Tổ hợp chất này có khả năng nhận diện gen bị lỗi, cắt bỏ nó, và thay thế đoạn gen lỗi ấy bằng một đoạn gen bình thường.

Tổ hợp CRISPR/Cas9 này đã được sử dụng nhiều trong nghiên cứu tế bào người trưởng thành và tế bào phôi thai động vật. Nhưng đây là lần đầu tiên nó được dùng trên tế bào phôi thai người.

3. Kiểm tra kết quả 

Sau khi tiêm CRISPR/Cas9 vào tế bào phôi thai, họ chờ 48 tiếng để tổ hợp xúc tác này có đủ thời gian "hành động" và tế bào phôi thai có đủ thời gian để nhân lên thành 8 tế bào. 

Trong 86 phôi thai được tiêm tổ hợp xúc tác, 71 phôi thai sống sót, 54 trong số đó được kiểm tra gen, chỉ có 28 trong số 54 đó đã được cắt bỏ gen lỗi, và chỉ một phần nhỏ trong số 28 phôi thai trên được thay thế bởi gen lành mạnh, bình thường. Nếu muốn sử dụng phương pháp này trên người thì tỉ lệ thành công phải rất gần với 100%. Nên theo kết luận của nhóm này, phương pháp này vẫn cần phải được cải thiện về nhiều mặt. 

Ngoài ra họ còn tìm ra những biến đổi gen nằm ngoài gen mục tiêu, gây ra do tổ hợp chất xúc tác được tiêm vào. Điều này đồng nghĩa với việc phương pháp biến đổi gen này vẫn chưa có khả năng hoạt động tối ưu trên phôi thai người. Và như vậy sẽ rất nguy hiểm vì những đột biến gen không mong muốn ấy có thể dẫn đến những biến đổi nguy hiểm không lường trước được hậu quả ở người. 

Kết quả này cũng gợi nhớ đến một thử nghiệm biến đổi gen đầu tiên trên thế giới cho 20 em bé bị nhiễm bệnh di truyền tự miễn dịch X-SCID được công bố vào năm 2002. Trong số 20 em được chữa trị, 18 em đã có lại được hệ thống miễn dịch bình thường, nhưng 5 em trong số đó bị bệnh ung thư máu trắng (leukemia) gây ra do một biến đổi gen nằm ngoài mục tiêu (off-target) tạo bởi chính phương pháp chữa trị.   

4. Khoa học và đạo đức

Câu hỏi muôn thuở của việc biến đổi gen từ trong phôi thai người là nên hay không nên? Cũng như với việc sinh sản vô tính ở người, luôn có một làn ranh giới mỏng manh giữa những mục đích tốt đẹp và đen tối của nghiên cứu này! 

Phía những người ủng hộ thì cho rằng nếu phương pháp này thành công thì sẽ chữa được vô số những bệnh di truyền từ trước khi đứa bé được sinh ra. Còn phía những người phản đối thì cho rằng việc nghiên cứu thay đổi gen từ trong phôi thai sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường ngoài tầm kiểm soát gây nguy hại đến mạng sống, hoặc thậm chí sẽ cổ súy cho việc tạo ra những "siêu con người" phục vụ cho những mục đích không chính đáng. 

Cũng vì lý do đạo đức này mà kết quả nghiên cứu trên đã bị hai tạp chí khoa học danh tiếng nhất thế giới là Nature và Science từ chối xuất bản.

Còn bạn, bạn nghĩ sao? 

Sunday, April 19, 2015

Nghiên Cứu Mới Trong Việc Chữa Trị Bệnh Rối Loạn Phát Triển Não (Autistic Spectrum Disorders - ASD)

1. ASD là gì?

ASD hiểu đơn giản là một căn bệnh ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của não, khiến cho bệnh nhân không có khả năng giao tiếp theo tiêu chuẩn “bình thường” của xã hội, và có những hành động bị hạn chế, hoặc lập lại liên tục. Tỷ lệ trẻ mắc bệnh ASD ở nam giới cao hơn gấp 4 lần so với ở nữ giới.

Lý do mà bệnh này được gọi là “spectrum disorder” (chuỗi rối loạn) vì nó không gây ra bởi một nhân tố nhất định, và cũng không có những triệu chứng/biểu hiện bệnh giống nhau giữa các bệnh nhân, ví dụ như có bé thì rất thông minh nhưng tự kỷ, có bé thì bị thiểu năng, có bé rất hiếu động nhưng cũng có bé rất thụ động, có bé rất nhạy cảm với nhiều thứ và cũng có bé gần như không có cảm giác gì với nhiều thứ, v…v....

Nói một cách khác thì nguyên nhân và triệu chứng của ASD giống như một dải cầu vồng nhiều màu sắc vậy, không màu nào giống màu nào. Cũng chính vì thế mà ASD được gọi là một bệnh “đa dị truyền” (heterogenetic) vì nó gây ra bởi nhiều loại biến đổi gen khác nhau. Và do đó, việc chữa trị ASD cần phải được gọt dũa cho phù hợp với từng bệnh nhân một, không ai giống ai. Nên nếu con em của bạn không có phản ứng tốt với một cách chữa trị này, thì vẫn còn rất nhiều giải pháp khác đang chờ bạn thử đấy! Đừng vội bỏ cuộc nhé!


2. Những điều cần biết về trẻ ASD

1. Tuy trẻ em với ASD có nhiều hạn chế, nhưng các bé vẫn có khả năng làm được nhiều thứ! Và chúng ta cần tập trung mạnh hơn vào điều bé “có thể làm” hơn là điều bé “không thể làm!” Đừng cố gắng “sửa chữa” bé mà hãy tìm cách hiểu bé, và giúp bé phát huy thế mạnh của mình, biến những thứ bé quan tâm trở thành những kỹ năng của riêng bé!

2. Tuy rằng bạn không thể thay đổi gen di truyền của bé, nhưng có rất nhiều thứ khác bạn có thể thay đổi và giúp bé tốt hơn, trong đó, cách hiệu quả nhất đó là qua lối sống và dinh dưỡng. Nếu bạn có thể cho bé một chế độ dinh dưỡng đầy đủ chất, trong môi trường lành mạnh, hạnh phúc, hoàn toàn thư giãn, không bị tổn thương về thể lý cũng như tâm lý, thì khả năng phát triển theo chiều hướng tích cực của bé sẽ là rất cao!

3. Việc tiêm vắc-xin cho bé là điều cần thiết. Gỉa thuyết cho rằng các bé bị ASD do lượng thủy ngân có trong chất bảo quản của vắc-xin là hoàn toàn không có cơ sở và không chính xác. Chính vì thế, sự hiểu biết đúng đắn của các bậc cha mẹ trong việc điều trị và nuôi nấng con cái là điều rất quan trọng, và là một nhân tố quyết định ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.

4. Tình yêu, sự kiên nhẫn, và thấu hiểu/đồng cảm với thế giới của bé là những yếu tố không thể thiếu trong suốt quá trình điều trị!

5. Một trong những phát hiện mới nhất bởi bác sỹ/tiến sỹ Gary Steinman tại trường Y Khoa Touro, New York, USA, đó là đa phần các trẻ mắc chứng bệnh ASD có lượng hóc môn tăng trưởng IGF (Insulin-like Growth Factor) thấp hơn so với các trẻ em không mắc chứng bệnh này. Và hóc môn này thì lại có rất nhiều trong sữa mẹ. Chính vì thế các trẻ em được bú sữa mẹ càng nhiều và lâu dài thì khả năng bị ASD lại càng thấp hơn so với trẻ bú sữa bình. Nên các bà mẹ chịu khó một tí nhé! Ngoài ra, rất nhiều nghiên cứu trước đó cũng đã khẳng định vai trò quan trọng của người mẹ trong việc giảm thiểu nguy cơ ASD cho bé trong giai đoạn thụ thai. Khi người mẹ đang mang thai, bất kỳ yếu tố nào gây căng thẳng (các thảm họa tự nhiên, những rắc rối trong mối quan hệ cá nhân, lo lắng về tài chính, v…v…) đều tăng khả năng dẫn đến ASD của bé. Và khi cả ba lẫn mẹ càng lớn tuổi (đặc biệt là sau 30) thì khả năng sinh con với chứng ASD cũng sẽ tăng cao hơn.

3. Chữa trị ASD dựa trên thuốc

Dựa trên những thành quả nghiên cứu của mình về ASD, bác sỹ/tiến sỹ Gary Steinman đã đưa ra một công thức để xác định khả năng bị ASD của trẻ sơ sinh dựa trên 3 yếu tố: hóc môn tăng trưởng - IGF, kháng thể của myelin - anti-MBP (Anti-Myelin Basic Protein), và chất dẫn truyền xung thần kinh serotonin. Theo nghiên cứu của ông, nếu công thức tính này có kết quả bằng 0 thì có nghĩa rằng trẻ sơ sinh không bị ASD. Điều này là rất quan trọng vì nó sẽ giúp phát hiện chứng ASD ở trẻ ngay khi vừa sinh ra, và do đó khả năng chữa trị sẽ càng hiệu quả hơn khi được bắt đầu sớm hơn. Một trong những cách chữa trị ông đưa ra đó là tiêm hóc môn tăng trưởng IGF cho trẻ sơ sinh hoặc dùng tế bào gốc để giảm bệnh cho trẻ sinh ra với ASD.

Không kém phần “nóng bỏng,” hiện tượng “viêm” gây ra bởi hệ thống miễn dịch của cơ thể - tìm thấy lần đầu tiên trong tế bào não của bệnh nhân ASD vào năm 2004 bởi tiến sỹ về thần kinh học Carlos A. Pardo tại đại học Y Khoa John Hopkins, Maryland, USA - đã dấy lên một hy vọng mới cho việc chữa trị ASD. Hiện tại, phòng nghiên cứu của ông đang tập trung thử nghiệm “minocycline,” một loại thuốc kháng sinh có khả năng điều hòa miễn dịch để giảm thiểu quá trình suy thoái của não cho bệnh nhân ASD.

Một phương pháp chữa trị thú vị “dĩ độc trị độc” đang trong giai đoạn thử nghiệm đến từ phòng nghiên cứu của bác sỹ Eric Hollander, giám đốc chương trình nghiên cứu và chữa trị ASD tại trường Y Khoa Albert Einstein, New York, USA. Kết quả nghiên cứu của ông dựa trên quan sát rằng trẻ em với chứng ASD khi bị sốt nóng hoặc khi bị sốt dị ứng thì gần với “bình thường” hơn. Qua đó, ông đã nghĩ ra cách điều trị bằng cách “đánh lừa” hệ thống miễn dịch bằng cách cho bệnh nhân ASD uống viên con nhộng có chứa 2500 trứng của con sâu roi (Trichuris Suis Ova) mỗi 2 tuần. Đến tuần thứ 12 thì một số bệnh nhân tham gia cuộc chữa trị thử nghiệm của ông đã hoàn toàn lành mạnh.

4. Chữa trị ASD dựa trên cách cư xử và giáo dục

Một ví dụ về cách chữa trị dựa trên cư xử là của bác sỹ/tiến sỹ Aleksandra Djukic, chuyên ngành về thần kinh học dành cho hội chứng Rett (Rett’s Syndrome) tại trường Y Khoa Albert Einstein, New York, USA. Bà nhận thấy rằng 100% trẻ em với hội chứng Rett (ASD) có cái nhìn rất mạnh và rất tập trung. Nghiên cứu của bà đã tìm ra rằng trẻ em với hội chứng Rett còn có khả năng dõi mắt nhìn theo những gì mà bé quan tâm, có khả năng phân biệt các dấu hiệu/kích thích khác nhau và “thích” những gì liên quan đến con người hơn là những vật vô tri giác, có khả năng “nhớ” những kích thích thị giác, và có khả năng hiểu những ngôn ngữ giao tiếp đơn giản. Dựa trên đó, bà đã sáng chế ra những thiết bị (cả phần cứng lẫn phần mềm) có tính biểu họa cao, giúp cho trẻ em có thể giao tiếp và điều khiển những vật dụng đơn giản thông qua ánh mắt nhìn.


Bác sỹ tâm lý học Daniel Orlievsky, giám đốc viện Phục Hồi Chức Năng Qua Kỹ Năng Viết tại bệnh viện Tâm Thần cho Trẻ Em tại Buenos Aires, Argentina thì tập trung nghiên cứu của mình vào ngôn ngữ. Theo quan niệm thông thường, người ta cho rằng ngôn ngữ viết đến sau ngôn ngữ nói, chính vì thế, các trẻ em bị rối loạn phát triển thường không được dạy viết vì ngay cả nói các bé còn không làm được mà! Tuy nhiên, viện nghiên cứu của ông đã hoàn toàn thành công trong việc dạy viết cho trẻ em với ASD, và điều kỳ diệu nhất là khi trẻ với ASD bắt đầu viết được thì những biểu hiện gắn liền với chứng ASD cũng dần dần biến mất. Các bé không những có khả năng giao tiếp qua bàn phím, mà còn có thể bắt đầu phát âm được những từ đơn giản. Điều này phù hợp với giả thuyết rằng cấu tạo của não sẽ tự động được tổ chức lại khi con người ta dần học được một chức năng nào đó, và từ đó cho thấy ngôn ngữ hoàn toàn có khả năng tạo ra và định hình cách cư xử ở trẻ em với ASD.

Và sau đây xin chia sẻ với các bạn một đoạn phim ngắn về trẻ ASD nhé!
https://www.youtube.com/watch?featur...&v=1d_mCmMdLIY 

Monday, April 13, 2015

Tại Sao Bạn Khóc?

Các nhà khoa học phân biệt nước mắt ra làm 3 loại: nước mắt “nền” [basal tears], nước mắt “khó chịu” [irritant tears], và nước mắt “cảm xúc” [emotional tears].





1. Nước mắt “nền”


Loại nước mắt này được tạo ra liên tục ở mắt. Cứ mỗi lần chớp mắt, loại nước mắt này được trải đều ra trên bề mặt của mắt để giữ mắt không bị khô và nhất là làm giảm trầy xát gây ra do luồng không khí hoặc bụi bay trong không khí. Thành phần của nước mắt nền gồm có chất kết dính (để giữ nước mắt trên bề mặt mắt), muối, và nước. Nếu như lượng muối trong cơ thể quá cao, muối sẽ được tiết ra nhiều hơn trong loại nước mắt này. Nước mắt nền còn chứa các chất kháng thể và các loại men để chống vi khuẩn gây bệnh. Đặc biệt hơn nữa là mỗi giọt nước mắt nền sẽ được bao bọc bởi một lớp mỏng dầu để giữ cho giọt nước mắt ấy không rơi ra trước khi nó hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ và điều tiết mắt.


2. Nước mắt “khó chịu” 

Mắt tiết ra loại nước mắt này khi xảy ra va chạm với gió, cát, hoặc bất cứ thứ gì gây khó chịu cho mắt. Loại nước mắt này cũng có nhiệm vụ bảo vệ mắt như nước mắt nền. Tuy nhiên, nhiệm vụ của loại nước mắt này chủ yếu là để tiêu biến những mảnh bụi hoặc vi khuẩn có kích thước đáng kể; do đó, lượng men và kháng thể trong loại nước mắt này cao hơn so với nước mắt nền.

3. Nước mắt “cảm xúc” 

Nước mắt này tiết ra khi người ta khóc, và mục đích của nó không phải là để rửa sạch mắt khỏi vi khuẩn hay bụi bẩn. Nước mắt này chứa chủ yếu là các hóc-môn (hormones) bị tích tụ quá mức cần thiết trong cơ thể khi cơ thể phải đối mặt với stress mạnh về cảm xúc. Nếu như các chất sinh hóa này không được tiết ra thì sẽ trở nên độc hại và làm hệ thống miễn dịch cũng như mọi hoạt động sinh hóa khác của cơ thể yếu đi. Do đó, cơ thể phải tìm cách đào thải chúng qua đường mồ hôi và nước mắt. Ngoài ra, nước mắt cảm xúc còn chứa những chất được tiết ra khi cơ thể bị đau đớn về thể xác, vì thế nên khóc không những làm giảm stress cho cơ thể mà còn góp phần làm giảm bớt cảm giác đau đớn.


4. Nước mắt và một vài điều thú vị khác 

Một loại stress hóc-môn chính – prolactin - được xác định là có nồng độ cao hơn trong nước mắt phái nữ so với nước mắt phái nam. Điều thú vị là nồng độ prolactin càng cao thì càng khiến người ta dễ khóc hơn. Điều này góp phần giải thích tại sao phụ nữ khóc nhiều hơn đàn ông [chừng 4 lần]. Nhưng điều này không có nghĩa là đàn ông ít bị stress hơn phụ nữ. Ở đàn ông, nồng độ của các loại stress hóc-môn khác cao hơn ở phụ nữ, nhưng đàn ông tiết ra các stress hóc-môn này chủ yếu qua các tuyến mồ hôi. Điều này giải thích tại sao đàn ông thường đổ mồ hôi nhiều hơn phụ nữ.

Một điều thú vị khác là khi khóc, mắt bị mờ và tầm nhìn bị hạn chế; như vậy, khóc là rất bất lợi vì nó ảnh hưởng lớn đến một trong 5 giác quan chính của con người là “nhìn,” vậy tại sao khóc vẫn được duy trì qua quá trình tiến hóa? Một giải thích tương đối hợp lý là người ta chỉ khóc khi cơ thể ở trong tình trạng “lặng,” khi không có gì quá mức kinh động ảnh hưởng tới cơ thể. Con người ta không hoàn toàn nhận ra nỗi sợ hãi, hoặc vui sướng, hoặc đau buồn cho đến khi sự kiện ấy đã xảy ra, và khi đó người ta có đủ thời gian để nhìn nhận nó và khóc để xả stress gây ra bởi sự kiện ấy.

Điều đặc biệt nhất là: chỉ có con người mới có khả năng khóc! Các loài khác cũng có tiết ra nước mắt, nhưng chỉ đơn giản là loại nước mắt khó chịu chứ không phải nước mắt cảm xúc nhé! ;) 

..và nếu như một lúc nào đó bạn cảm thấy muốn khóc, thì hãy nhớ rằng đó là dấu hiệu cho biết cơ thể của bạn đã chạm đến mức báo động của cường độ stress và có thể gây nguy hại đến sức khỏe của bạn…. vì thế nên… hãy để nước mắt tuôn ra. “It’s okay to cry.”

Thursday, April 2, 2015

Chúng Ta Đã "Lão Hoá" Ngay Từ Trong Bụng Mẹ!

Con người chính là bộ máy tự tồn và tự huỷ phức tạp nhất và hoàn hảo nhất, vì họ đã được tạo ra như thế!

1. Tuổi già đến từ bên trong những tế bào

Vào năm 1961, hai nhà khoa học người Mỹ Leonard Hayflick and Paul Moorehead đã phát hiện ra tế bào con người có tuổi thọ nhất định và không thể nhân lên mãi trong phòng thí nghiệm. Phát hiện này đã mở đầu cho một giai đoạn mới trong nghiên cứu về lão hóa, dẫn đến khám phá rằng khi các tế bào càng lớn tuổi thì khả năng sinh sản của chúng cũng chậm dần rồi mất hẳn; và đó cũng là lúc con người già đi để rồi qua đời. Điều này cũng góp phần giải thích vì sao chú cừu Dolly được nhân giống bằng sinh sản vô tính vào năm 1996 chỉ sống được đến 6 tuổi, khi mà tuổi thọ trung bình của nó lẽ ra phải là 11-12 năm: lý do có thể là vì cừu Dolly được nhân giống từ một tế bào trưởng thành của một chú cừu đã 6 năm tuổi.  


2. Tế bào lão hóa được tìm thấy trong phôi thai

Đến tháng 11/2013, cả thế giới lại được một phen chấn động khi 3 nhóm nghiên cứu độc lập (2 nhóm từ Tây Ban Nha, 1 nhóm từ Israel) cùng công bố một kết quả: họ tìm thấy tế bào lão hóa trong phôi thai của chuột và gà (trong hình minh họa lấy từ http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0092867413013597, những phần nhuộm xanh là bằng chứng của sự có mặt của tế bào đã lão hóa). Điều này đáng kinh ngạc ở chỗ chưa ai nghĩ rằng phôi thai lại là nơi tế bào lão hóa tồn tại cả. Ai cũng nghĩ rằng tế bào lão hóa chỉ xuất hiện trong quá trình lão hóa khi cơ thể lớn tuổi mà thôi.


Phát hiện này đã giúp các nhà khoa học đưa đến kết luận rằng quá trình lão hoá của tế bào xảy ra ngay từ giai đoạn phôi thai để điều chỉnh sự phát triển của thai nhi sao cho nó hoàn hảo nhất bằng cách tự diệt những gì dư thừa, những gì không phù hợp cho thai nhi trong quá trình thai nhi phát triển thành một cơ thể trưởng thành.

Đến khi lớn lên, quá trình lão hoá của tế bào giúp con người chống lại sự phát triển của những tế bào bị lỗi bằng cách làm lão hóa những tế bào có hại đến sự hài hòa của cơ thể, giúp hạn chế tối đa sự phát triển của các loại bệnh tật, khối u. Điều này giải thích vì sao trẻ thường khoẻ!

Đến khi về già, cũng chính quá trình lão hoá tế bào này khiến cho cơ thể tăng nguy cơ bị bệnh tật và dễ dàng bị ung thư hơn. Tế bào ung thư đơn giản là những tế bào đã thoát ra khỏi quá trình lão hoá để trở nên bất tử và sinh sản vô chừng, tạo ra khối u. Khi tế bào thoát khỏi lão hóa để trở nên bất tử, thì cũng chính quá trình lão hóa tế bào này giúp cho chúng phân tán đi nhanh hơn đến các nơi trong cơ thể, tạo ra nhiều khối u để hủy diệt con người nhanh hơn. Chính vì thế ung thư còn được gọi là bệnh của tuổi già vì nó thường xảy ra khi cơ thể bắt đầu già nua! Và ung thư cũng chính là quá trình tự hủy lớn nhất của con người! Ở đây có một chút châm biếm đó là tế bào ung thư là tế bào thường bị đột biến thành bất tử, tạo ra khối u nuôi sống trên sự chết dần chết mòn của chính chủ nhân nó, để cuối cùng, nó cũng không thể nào bất tử mãi mãi, khi chủ nhân nó cũng vì nó mà rồi tan ra thành tro bụi!

3. Lão hóa, tiến hóa, và sự trường xuân

Các nhà khoa học cũng đã tìm ra sự tồn tại của nhiều gen trong cơ thể hoạt động hai mặt như thế, gọi là gen đa mặt (pleiotropic genes). Chúng có khả năng khi thì hỗ trợ, khi thì gây hại đến cùng một quá trình nào đó trong cơ thể tùy vào thời điểm thích hợp. Và cũng như lão hoá tế bào (senescence), hầu hết mọi thứ hoạt động trong cơ thể con người đều là những con dao hai lưỡi, bảo vệ họ khi cần, và huỷ diệt họ khi cần.

Theo luật tiến hoá, nếu con người không tự tồn thì sẽ gây mất thăng bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn của cả vũ trụ. Nhưng cũng theo thuyết tiến hoá này, nếu họ không tự diệt thì cũng sẽ làm mất cân bằng sinh thái đó! Do đó, lão hóa là hoàn toàn phù hợp với thuyết tiến hóa này!


Dẫu biết thế, nhưng một trong những tham vọng lớn nhất của con người qua mọi thế hệ vẫn là làm sao trẻ mãi không già! Bây giờ cũng vẫn thế! Do đó ngành nghiên cứu chuyên về lão hóa (aging) đang là đề tài nóng bỏng hiện giờ. Con người hy vọng có thể “lập trình” lại các tế bào để chúng trẻ mãi mà không đi qua lão hóa, khi đó, họ sẽ không bị già đi nữa. Một trong những kết quả củng cố cho giả thuyết nếu tế bào trẻ thì cơ thể cũng sẽ trẻ này đó là khi người ta phẫu thuật nối hệ tuần hoàn của một con chuột già và một con chuột trẻ với nhau thì máu từ con chuột trẻ đã khiến con chuột già trẻ lại. Đáng nói hơn là kết quả này được tìm ra bởi nhiều nhóm nghiên cứu độc lập từ 2005 đến 2013 ở các nơi trên thế giới.

Theo bạn thì con người có thể lập trình lại lão hóa, thắng được luật tiến hóa để đạt đến sự trường sinh bất lão không? 


Wednesday, April 1, 2015

Các Phương Pháp Phòng Và Chữa Ung Thư 2015

Có khoảng 14 triệu ca ung thư mới vào năm 2012, và con số này sẽ có thể lên đến 22 triệu mỗi năm trong vòng 2 thập kỷ sắp tới. Bệnh ung thư phổ biến nhất là ung thư phổi (13% tổng số ca ung thư), sau đó đến ung thư vú (11.9%), và ung thư ruột (9.7%). Cùng năm đó, số ca tử vong vì ung thư phổi là cao nhất (19.4% tổng số ca tử vong vì ung thư), sau đó đến ung thư gan (9.1%), và ung thư dạ dày (8.8%). Các nước đang phát triển có xu hướng bị ung thư cao hơn. Hơn 60% tổng số ca ung thư và 70% tổng số những ca tử vong do ung thư là ở các nước Châu Phi, Châu Á, Trung Mỹ và Nam Mỹ.



1. Phòng bệnh hơn chữa bệnh

“Cuộc chiến chống lại ung thư sẽ khó có thể thành công nếu chỉ dựa trên chữa trị. Phòng chống ung thư là rất cần thiết để giảm thiểu cuộc khủng hoảng về ung thư toàn cầu này!” Đó chính là kết luận thông qua bởi hơn 250 nhà khoa học chuyên ngành ung thư từ hơn 40 đất nước trong bản báo cáo tổng kết về Ung Thư Toàn Cầu cho năm 2014.

Theo Viện Nghiên Cứu Ung Thư Quốc Gia của Mỹ thì đến 80% nguyên nhân dẫn đến ung thư là do những yếu tố có thể kiểm soát được, trong đó:
+ dinh dưỡng chiếm 30-60%
+ thuốc lá (30%)
+ ô nhiễm không khí và nguồn nước (5%)
+ rượu (3%)
+ phóng xạ (3%)
+ các loại thuốc men (2%). 
Do đó, ngoại trừ những trường hợp thiểu số ung thư xảy ra do di truyền, phần lớn các ca ung thư đều có thể tránh được nếu như các kiến thức về phòng chống ung thư được phổ biến tốt hơn.



Những biện pháp phòng chống ung thư hiệu quả bao gồm:
+ Tiêm chủng: tiêm chủng chống lại hepatitis B virus và human papilloma virus (HPV) có thể giảm thiểu khả năng bị ung thư gan và ung thư cổ tử cung. 
+ Chống sự tràn lan của thuốc lá và chống lại thói quen hút thuốc lá.
+ Tập thể dục thể thao đều đặn mỗi ngày.
+ Cân bằng dinh dưỡng: tăng khẩu phần rau củ quả, giảm chất béo, giảm muối, giảm đồ ngọt, tránh béo phì. 
+ Khám bệnh định kỳ mỗi năm để sớm phát hiện ung thư và chữa trị kịp thời, nhất là bệnh ung thư vú và ung thư cổ tử cung ở phụ nữ và ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới. Hiện thời đại học John Hopkins cũng đang nghiên cứu phương pháp lấy sinh thiết lỏng (liquid biopsy) bằng cách sử dụng máu và dịch để phát hiện ung thư nhanh hơn, hiệu quả hơn mà không cần lấy sinh thiết mô.


Ngoài ra chính phủ cũng cần phải có chính kiến quảng bá rầm rộ cho việc phát hiện và phòng chống ung thư sớm; đó là một đầu tư vô cùng hợp lý để giảm thiểu tốn kém sau này, theo như Tiến Sỹ Bernard, đồng tác giả của bản báo cáo trên tuyên bố. Bài học chung về việc kiểm soát ung thư từ các nước có thu nhập cao cho thấy việc phòng chống ung thư từ cộng đồng là cần thiết nhưng vẫn chưa đủ. Các quy định pháp lý sau của chính phủ sẽ là rất c
ần thiết để giúp cho việc phòng chống ung thư đạt hiệu quả cao hơn:
+ Tăng thuế và giới hạn quảng cáo thuốc lá, rượu bia, các thức uống nhiều đường.
+ Nghiêm cấm hút thuốc lá nơi công cộng.
+ Kiểm soát lượng muối và các chất hóa học trong thực phẩm và hàng tiêu dùng nghiêm ngặt hơn.
+ Cổ động các phong trào thể dục thể thao trên toàn nước.
+ Thắt chặt luật môi trường ở những nơi làm việc có nguy cơ dẫn đến ung thư cao, v…v...


2. Những phương pháp chữa ung thư hiệu nghiệm ở thời điểm hiện tại

Bốn cách chữa trị cổ điển và vẫn phổ biến nhất hiện giờ là:
1. Phẫu thuật (surgery): tiến hành cắt bỏ khối u.
2. Hóa trị (chemotherapy): cho bệnh nhân uống một hay nhiều loại thuốc để ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.
3. Xạ trị (radiotherapy): dùng năng lượng phóng xạ đến từ tia X, tia gamma, hay từ chùm hạt phân tử để diệt tế bào ung thư.
4. Liệu pháp nội tiết (endocrine therapy): thêm/bớt/hay ngăn chặn một số hoóc-môn nào đó để chữa trị ung thư.
Nếu khối u nằm ở vị trí không gây nguy hiểm đến các cơ quan xung quanh, thì sẽ tiến hành phẫu thuật trước, rồi sau đó hóa trị hay/và xạ trị. Nhưng nếu khối u nằm ở những vị trí nguy hại cho các cơ quan xung quanh, thì sẽ hóa trị hay/và xạ trị trước để làm teo nhỏ khối u, rồi mới tiến hành phẫu thuật. Riêng liệu pháp nội tiết thì đang được áp dụng cho việc chữa trị ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt.



Ngoài ra những tiến bộ khoa học gần đây cũng đưa ra một số cách chữa trị mới, hứa hẹn một kỷ nguyên mới hiệu quả hơn cho việc chữa trị ung thư, bao gồm:
1. Liệu pháp vi-rút (viral therapy): sử dụng vi-rút đã qua sự chỉnh sửa của con người để tấn công tế bào ung thư mà không ảnh hưởng tế bào thường.
2. Liệu pháp ngăn sự phát triển của mạch máu trong khối u (anti-angiogenic therapy): ngăn chặn tế bào ung thư tạo mạch máu mới để lấy dinh dưỡng từ tế bào khỏe mạnh. 
3. Liệu pháp miễn dịch (immunotherapy): sửa đổi những tế bào trong hệ thống miễn dịch của chính cơ thể để diệt tế bào ung thư một cách chọn lọc. Trong những cách này, liệu pháp miễn dịch đang được sử dụng rất hiệu quả trong việc chữa trị ung thư máu và một số loại khối u cứng. Đến năm 2012, đã có 12 loại kháng thể được FDA (Food And Drug Administration – Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Thuốc của Mỹ) thông qua để sử dụng trong liệu pháp miễn dịch chống ung thư này.

3. Thông tin sai lệch về chữa trị ung thư 

Trên mạng có rộ lên việc chia sẻ bài viết sau đây về những cách chữa trị ung thư từ trường đại học Y Khoa danh tiếng John Hopkins của Mỹ, và đó hoàn toàn là những thông tin sai lệch (ví dụ như việc chữa trị ung thư bằng cách nhịn ăn sữa, đường và thịt), đã được John Hopkins đính chính cụ thể là không hề do họ viết trên website chính thống của họ tại đây: http://www.hopkinsmedicine.org/kimmel_cancer_center/news_events/featured/cancer_update_email_it_is_a_hoax.html Các bạn khi gặp bài viết chia sẻ những thông tin sai lệch này thì xin tuyệt đối đừng chia sẻ nữa nhé! Bài viết sai lệch đó có nội dung như sau: http://www.yhoccotruyenvietnam.com/2014/12/mot-so-thong-tin-noi-ve-ung-thu-cua.html



Ngoài ra thỉnh thoảng cũng có những bài viết được chia sẻ về việc ăn mãng cầu xiêm, hay ăn rễ cây hoa bồ công anh, hay một loại hoa quả/thực phẩm bất kỳ có thể chữa được bệnh ung thư. Những thông tin này là không chính xác vì tính đến thời điểm hiện tại, không có một loại trái cây/thực phẩm nào có thể chữa được ung thư cả. Việc nghiên cứu chiết xuất chất có thể giết tế bào ung thư từ các thành phần tự nhiên này vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu ở phòng thí nghiệm mà thôi và chưa hề được thử trên người. Các bạn cũng nên lưu ý để tránh chia sẻ những thông tin này nhé! 

4. Hướng chữa trị ung thư trong tương lai: Y học chuẩn xác!

Ung thư là một bệnh rối loạn tế bào, gây ra do biến đổi trong gen di truyền. Có nhiều loại ung thư khác nhau, và mỗi loại gây ra là do hậu quả của biến đổi gen khác nhau. Thêm vào đó, bộ gen di truyền giữa mỗi người chúng ta lại khác nhau 0.1%, giải thích cho việc “cơ địa” mỗi người mỗi khác. Chính vì thế ung thư rất đa dạng, “được” đo ni đóng giày cho từng bệnh nhân, không ai giống ai. Do đó, cùng một cách chữa trị có thể có khả năng chống sự lây lan của tế bào ung thư ở một người, nhưng lại hoàn toàn có thể vô hiệu đối với một người khác. Vì thế hướng đi mới trong điều trị ung thư cũng như tất cả các loại bệnh tật khác trên con người đang và sẽ được chú trọng là “y học chuẩn xác” (precision medicine). 



Tổng thống Obama của Mỹ đã phát biểu vào tháng 1/2015 như sau: “Tôi muốn đất nước (Mỹ) đã xóa bỏ được bệnh bại liệt và giải mã bộ gen của con người dẫn đầu trong kỷ nguyên mới của Y Học này, kỷ nguyên mà những cách chữa trị phù hợp cho mỗi cá nhân sẽ được sử dụng vào đúng thời điểm của nó.” Đi kèm với phát biểu trên là việc công bố $216 triệu Mỹ kim trong ngân sách của 2016 được dành riêng cho chủ trương này. Theo phương pháp này, bộ gen của mỗi bệnh nhân sẽ được giải mã cụ thể và dựa trên các tiến bộ của di truyền học (genomics) kèm theo tiến bộ trong việc thu thập và phân tích các dữ liệu kỹ thuật số (digital data), mỗi bệnh nhân sẽ được áp dụng một cách chữa trị riêng hiệu quả nhất cho việc chữa trị bệnh tật của người đó.


Cuộc chiến chống ung thư là một cuộc chiến bền bỉ, lâu dài, và mỗi loại ung thư sẽ có một hồi kết khác nhau. Vì tính chất biến đổi gen liên tục của ung thư, sẽ rất khó để tiêu diệt ung thư triệt để như người ta đã xóa sổ bệnh bại liệt. Tuy nhiên, những tiến bộ khoa học sẽ luôn là nơi cung cấp nguồn hy vọng bất tận cho con người, miễn là con người đừng bỏ cuộc, nhất là với chính bản thân mình trước tiên!